LIAM KELLEY- MỘT ĐỀ DẪN SONG NGỮ VỀ NÚI LỬA Ở VIỆT NAM 1911

by-volcano1-1

Phạm Quang Sán là một người rất thú vị. Năm 1908, ông đã dịch sang Hán văn những tư tưởng cải cách vốn được viết bằng quốc ngữ cho những ai chỉ biết Hán văn có thể tiếp cận chúng- cuốn Ấu học phổ thông thuyết ước 幼學普通說約 . Năm 1909, ông viết một phiên bản các câu hỏi khảo thí kèm theo các câu trả lời chứa nội dung cải cách vì vậy những thí sinh luyện thi khoa cử có thể biết đến cái học của Tây phương- cuốn Sách học tân tuyển 策學新選.

Và vào năm 1911, Phạm Quang Sán xuất bản một cuốn sách giáo khoa khoa học song ngữ (Hán văn và quốc ngữ) có tên gọi Phổ thông độc bản 普通讀本 .

ptdb-cover1-1

Cuốn sách của ông có hai phần chính. Một phần nói về bầu trời/thiên văn còn phần kia nói về trái đất. Đây là hai chủ đề đã xuất hiện trong những cuốn sách dạy cho trẻ con trước đó, như cuốn Khải đồng thuyết ước 啓童説約 của Phạm Phục Trai 范复齋 năm 1853. Tuy nhiên, Phạm Quang Sán bàn luận về những chủ đề này theo cách thức phản ánh tri thức của ông ta về khoa học phương Tây.

1h.jpg

Chẳng hạn, ông bắt đầu phần học về trái đất với việc phát biểu rằng ‘Đất tròn như quả cầu, cho nên gọi là địa cầu’(地圓如球故曰地球).

Một trong những dấu hiện ông dùng để chứng mình cho điều này là thực tế rằng “人能繞行地球 ta đi quanh hết quả đất được).

1v

Trong công trình năm 1853, Phạm Phục Trai đã không nói rằng trái đất hình tròn. Ông ta đã không gọi nó là ‘trái đất’(eathern ball), và ông ta có thể không biết rằng người ta có thể đi quanh hình cầu ấy. Có lẽ ông ta cũng không hề biết rằng cụm từ ‘địa cầu’nhằm chỉ cái gì.

Vì vậy, mặc dù một phát biểu như ‘mặt đất hình tròn như quả bóng và vì vậy nó được gọi là trái đất’ có vẻ đơn giản như chẳng hề quan trọng, [nhưng] thực chất nó là dấu hiệu cho một sự chuyển biến lớn lao trong thế giới quan người Việt đang diễn ra lúc đó.

Và cuốn sách này chứa đựng rất nhiều những thông tin dạng như vậy, bao gồm cả một phần cuối thảo luận rất chi tiết về núi lửa.

地中有非常之熱度,與沸水同。土石被其張力衡破地殼,[送?]出於外遂成火山。火山之上有孔穴凹,下若碗名噴火口。其噴出之石質名流石。蓋地中之石漿熱汁噴出於外,沉溺於水底,漸次凝結而成石也。

火山自古以來常噴火者,謂之活火山,自古噴火至今日而息者,謂之息火山,自古以來從未噴火者,謂之死火山。

統全地球計之,火山約二百餘座。美洲西邊為最多。不惟陸地有之,即洋海亦往往有之。地中也有溫泉熱井,其原因于火山同。

Trẻ con học sách này ở trường bắt đầu vào năm 1911đã thụ hưởng những kiến thức mà cha mẹ của chúng chưa từng một lần được biết đến khi họ còn trẻ.

Trẻ con ở Việt Nam những năm 1910 đã học về một thế giới mới, một thể giới được hình dung không phải bởi học lại những gì mà các thế hệ người Việt trước đã từng học, mà học những loại hình kiến thức mới, như về thực tế trái đất thì tròn, con người có thể đi vòng quanh nó, và đâu đó có khoảng 200 miệng núi lửa trên địa cầu.

Một khi trẻ con đã bắt đầu học những điều mới như vậy, thì sự tồn tại của những tri thức truyền thống Việt Nam chỉ còn đếm được từng ngày.

“Trong tâm trái đất cực kỳ nóng, như đun nước sôi vậy. Bởi vì lực của nó rất mạnh, đá bị đẩy xuyên qua vỏ trái đất ra bên ngoài tạo thành núi lửa. Trên đỉnh núi lửa là những cửa hóp vào, còn phía dưới thì nhìn như hình một cái bát, gọi là miệng núi lửa. Chất đá được đẩy ra ngoài gọi là dung nham. Chắc chắn rằng những chất đá lỏng trong lòng đất ấy bị đẩy ra ngoài rồi dần dần thành tảng đá sau khi chìm xuống nước.

Những núi lửa phun trào từ lâu rồi gọi là những núi lửa sống. Những ngọn ngày xưa đã từng phun trào trong một thời gian dài nhưng giờ tạm dừng lại gọi là núi lửa ngủ. Còn những ngọn chẳng bao giờ còn thấy phun trào nữa gọi là núi lửa chết.

Trên toàn địa cầu đâu đó có khoảng 200 núi lửa. Phía tây nước Mỹ co snhiều nhất. Chúng không chỉ có trên đất liền. Chúng cũng thường được phát hiện cả dưới đáy biển hay đại dương nữa.

Địa cầu cũng có những dòng suối ấm. Chúng cũng chính là do núi lửa tạo nên.” (chúng tôi dịch theo nguyên bản tiếng Anh để tuân thủ đúng cách hiểu của tác giả)

bookcover

 

Trẻ con học sách này ở trường bắt đầu vào năm 1911đã thụ hưởng những kiến thức mà cha mẹ của chúng chưa từng một lần được biết đến khi họ còn trẻ.

Trẻ con ở Việt Nam những năm 1910 đã học về một thế giới mới, một thể giới được hình dung không phải bởi học lại những gì mà các thế hệ người Việt trước đã từng học, mà học những loại hình kiến thức mới, như về thực tế trái đất thì tròn, con người có thể đi vòng quanh nó, và đâu đó có khoảng 200 miệng núi lửa trên địa cầu.

Một khi trẻ con đã bắt đầu học những điều mới như vậy, thì sự tồn tại của những tri thức truyền thống Việt Nam chỉ còn đếm được từng ngày.  

Nguồn: A Bilingual Introduction to Volcanoes in 1911 Vietnam by Liam Kelley. 4/11/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch ngày 10/11/2016.

 

LIAM KELLEY- CẢI CÁCH GIÁO DỤC CỦA VUA THÀNH THÁI

tt.jpg

Đọc bất cứ cuốn sách nào về lịch sử Việt Nam hiện đại đều thấy nó vinh danh một ngôi trường cải cách chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ở Hà nội vào năm 1907- Đông Kinh Nghĩa Thục東京義塾. Ngôi trường này được cho là ngôi trường đầu tiên dạy về những môn học ‘hiện đại’ (phương Tây) và tuyên truyền sử dụng chữ quốc ngữ với mẫu tự Latin thay vì Hán văn.

Trong khi đó, không một cuốn sách nào trích dẫn  Đại Nam hội điển sử lệ tục biên欽定大南會典事例續編 , một biên soạn theo sắc lệnh và chỉ dụ của triều Nguyễn.

Tuy vậy, văn bản này lại cho thấy rằng triều Nguyễn cũng đau đáu không kém Đông Kinh trong việc đem đến một loại chữ viết và những thay đổi mới về tri thức.

Nhưng điều khác biệt hơn cả là, trong khi Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ dạy một số ít những người ở Hà Nội trong vài tháng, thì hoàng đế triều Nguyễn lúc đó, Thành Thái, lại cố gắng mang cải cách diễn ra trên toàn bộ đất nước, và ông quyết định làm điều này vào năm trước khi trường Đông Kinh được thành lập.

11.jpg

Vào đầu thế kỷ XX, có ba cấp trường học dưới sự cai trị của triều Nguyễn lúc đó: ấu học (introductory school), sơ học (elementary school) và trung học (middle school).

Các trường ấu học được thành lập bởi các làng, trong khi hai loại trường kia được tổ chức bởi chính quyền triều đình.

Hoàng đế Thành Thái đã tuyên bố trong một sắc lệnh rằng vào năm trị vì thứ 18 của ông, cha mẹ có thể quyết định việc cho con theo học một trường ấu học Hán văn hoặc một chương trình giảng dạy Nam âm (quốc ngữ).

Với những người học theo chương trình Hán văn, sẽ có một cuốn sách giáo khoa được soạn ra nhằm giới thiệu những từ chữ Hán theo cấp độ khó dần. Nó cũng bao gồm một danh mục các Hán tự kèm theo phiên âm và định nghĩa bằng quốc ngữ được dùng trong tài liệu.

Thêm nữa, trong quá trình biên soạn cuốn sách giáo khoa này, hoàng đế Thành Thái đã ra lệnh phải chú trọng đưa những thêm ví dụ tham khảo về lịch sử cổ đại bên cạnh những ví dụ tham khảo về lịch sử hiện đại.  (摭古史之譬諭,而今史有與相合者增繼之)

Nói một cách khác, vua Thành Thái đã lên ý tưởng hiện đại hóa nền học thuật Hán văn ở Việt Nam khiến nó gần gũi hơn với xã hội lúc đó.

21.jpg

Trong khi, một cuốn sách giáo khoa bằng quốc ngữ khác sẽ được soạn ra để dạy những người theo chương trình học ‘Nam âm’ nhằm giới thiệu cho họ những thông tin cơ bản về xứ Đông Dương, thiết chế cai trị của nó, những phong tục tập quán,…

Thêm vào đó, cũng có thêm một cuốn sách nữa được dịch từ Hán văn sang Nam âm nhằm cung cấp những loại thông tin mà học viên đang luyện thi khoa cử cần biết. Bản dịch này được soạn ra cho những người không muốn thi khoa cử, nhưng nó vẫn được đưa vào chương trình để cho họ biết thêm về những gì mà những người đang luyện thi khoa cử phải học.

31.jpg

Ngày nay, nếu chúng ta đọc danh mục về vua Thành Thái trên Wikipedia, chúng ta sẽ tìm thấy những tự sự khác nhau (theo một cách rất dân tộc chủ nghĩa) về giai đoạn này. Tuy vậy, không một thông tin nào trong đó được viết đựa trên Đại Nam hội điển sử lệ tục biên 欽定大南會典事例續編.

Vậy chúng đã được viết dựa trên những tài liệu nào? Và vì sao người ta vẫn thường tin vào nó?

Càng xem xét những nguồn tài liệu từ giai đoạn này, chúng ta càng thấy rằng chính nhà Nguyễn mới là triều đại đi đầu trong công cuộc cải cách.

Tuy nhiên, có hai nhóm người trong lịch sử Việt Nam hiện đại vẫn thường được xem là những đại diện uy tín trong công cuộc này: người Pháp và những nhà cách mạng.

Nhưng trong số những người thuộc hai nhóm trên, ai là người có đủ quyền lực vào đầu thế kỷ XX để có thể lan rộng ảnh hưởng xuống đến tận cấp độ làng quê? Không ai cả. Chỉ có vua quan nhà Nguyễn mới làm được điều đó mà thôi.

Như vậy, ai mới thực sự là những người đã thay đổi xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX?

Nguồn: Emperor Thành Thái’s Educational Revolution by Liam Kelley 7/11/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch ngày 10/11/2016.

LIAM KELLEY- NGHĨ LẠI VỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

waiting2a.jpg

Trong kỳ thi khoa cử cuối cùng được tổ chức tại Huế năm 1919, đã có những câu hỏi được ra cả dưới dạng Hán văn lẫn tiếng Việt hiện đại ( dùng mẫu tự Latin, quốc ngữ). Một trong số những câu hỏi đó như sau:
“Nước ta văn- hiến trải mấy ngàn năm, bây giờ nghĩ phỏng Thái- Tây đặt viện Hàn- Lâm dịch các sách vở, luận.”
Và trong bài luận của mình, học giả Dương Thiệu Tường đã viết:
“Đến bây giờ là thời- đại văn- minh, học- giới thay đổi, mà học- giới đã thay đổi thì không thể giữ mãi được lỗi văn- tự cũ, nhưng nước nhà mấy ngàn văn vẫn lấy hán- tự làm quốc- túy, vì rằng những điển- chương pháp- độ của các đời trước, cũng là bởi cách- ngôn lý- học của bậc Thánh- hiền, đều cơ- sở ở hán- học cả, nếu chữ hán hết đi thời sau này quốc- dân lấy gì mà khảo- cứu hiến- chương của đời trước, người sau lấy đâu mà xem xét văn- minh của nước nhà, lại phải dịch ra quốc- âm, cho nên việc lập hội Hàn- Lâm dịch các sách vở đề giữ lại văn- hiến nước nhà, thực là cần lắm.”

1
Hãy cùng dừng lại và suy nghĩ về điều này. Năm 1919, một học giả ở cấp bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục khoa cử, một thiết chế đóng vai trò quan trọng trung tâm học giáo dục truyền thống Việt Nam, đã viết một câu trả lời cho câu hỏi bằng quốc ngữ và tuyên bố rằng thế giới giờ đã thay đổi, thế giới truyền thống của Việt Nam không phải là một phần của cái thế giới mới đó.

Điều này đem đến những gợi dẫn quan trọng cho cách hiểu của chúng ta về lịch sử Việt nam đầu thế kỷ XX. Cái cách mà lịch sử giai đoạn đó vẫn được kể (ít nhất trong các công trình bằng tiếng Anh) là thế giới truyền thống gần như đã mất hết tính chính thống và sự ảnh hưởng của nó ở Việt Nam với sự bất lực của triều Nguyễn trong việc chống lại chủ nghĩa thuộc địa và sự xâm lược của người Pháp.

Câu chuyện sau đó tiếp tục nói về những nhà cách mạng và những nhà cải cách, những người xuất hiện với những nỗ lực nhằm thực hiện những gì mà các quan chức nhà Nguyễn đã thất bại. Ở đây, chúng ta biết đến Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Đông Kinh Nghĩa Thục, nhưng chúng ta sau đó cũng biết được rằng, nỗ lực cải cách xã hội Việt Nam này đã kết thúc vào năm 1908-1909 khi trường Đông Kinh bị đóng cửa, Phan Chu Trinh bị bắt còn Phan Bội Châu bị ép phải sống lưu vong.

Đến thập kỷ tiếp theo… ‘không nhiều thứ xảy ra’, và chỉ đến cuối những năm 1910 khi Toàn quyền Albert Sarraut đề ra một vài cải cách, người Pháp bắt đầu thành lập hệ thống trường học bao gồm chương trình học quốc ngữ và Pháp ngữ, kèm theo đó là rất nhiều sách báo quốc ngữ được xuất bản, đến khi ấy thì ‘mọi thứ mới thực sự thay đổi’.
Nói một cách khác, lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX như nó vẫn đang được kể ngày nay là một câu chuyện về những nhà cách mạng Việt Nam và các quan chức thuộc địa người Pháp.
Tuy nhiên, đây là hai nhóm người với số lượng rất ít. Ảnh hưởng của họ có thực sự to lớn đến vậy sao? Hay liệu chúng ta có đang bỏ qua những điều mà những người khác đã làm trong suốt giai đoạn này?

2.jpg
Tuy vậy, những gì được ghi chép từ kỳ thi khoa cử và còn lại của triều Nguyễn cho thấy, ‘rất nhiều thứ’ đã xảy ra trong khoảng những năm 1910. Trên thực tế, toàn bộ thế giới quan [của người Việt?] đã thay đổi.

Sự chuyển dịch từ phát ngôn bằng Hán văn năm 1910 rằng Kinh Dịch là nguồn gốc của mọi tri thức cho đến lời bàn luận bằng quốc ngữ năm 1919 rằng một Hàn Lâm viện nên được mở ra để dịch Hán văn sang quốc ngữ cho thế hệ tương lai có thể tiếp cận được nền Hán học quốc túy của Việt Nam…là một chuyển dịch lớn lao.

Vì vậy, tôi nghĩ ‘câu chuyện’ của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX cần được xem xét lại. Phan Bội Châu đã không làm thay đổi được Việt Nam đầu thế kỷ XX, và cả Albert Sarraut cũng khó có thể nhận công trạng cho những gì đã diễn ra vào những năm 1920 tiếp đó.
Thay vào đó, chính giới tinh hoa truyền thống đã tự thay đổi họ, và họ cũng nỗ lực để tạo nên những thay đổi trong xã hội, như những tác phẩm của Phạm Quang Sán đã ghi nhận.
Thêm nữa, rất nhiều trong số những cải cách này đã được chuẩn bị hàng thập kỳ trước những năm 1920, thời đại mà các sử gia hiện đại cho là ‘thời đại của những thay đổi thực sự’ trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Học sinh đã được học bằng ký tự Latin, đã biết được rằng thế giới thì tròn và đâu đó trên hành tinh này có khoảng 200 ngọn núi lửa. (xem post trước)

3.jpg
Sau cùng, câu chuyện đang tồn tại trên về lịch sử đầu thế kỷ XX của Việt Nam được định hình bởi [rào cản] ngôn ngữ và những thiên kiến nào đó. Phan Bội Châu quan trọng vì một vài trong số những sáng tác của ông ta đã được dịch sang tiếng Việt hiện đại và các sử gia hiện đại đề cao nỗ lực của ông ta trong tổng thể những nỗ lực của chính họ nằm tạo nên một tự sự về cách mạng Việt Nam hiện đại.

Những cải cách của Albert Sarraut và sự rung chuyển của đời sống tri thức những năm 1920 đã trở thành trọng tâm trong rất nhiều công trình của các sử gia hiện đại, đơn giản vì nguồn tài liệu cho giai đoạn đó đa phần được viết bằng tiếng Việt và tiếng Pháp- những ngôn ngữ mà họ có thể đọc.

Tuy nhiên, dấu hiệu cho những biến chuyển to lớn mà tôi đang nói đến lại chủ yếu nằm trong những tài liệu Hán văn, thứ ngôn ngữ mà các sử gia hiện đại không đọc được.
Về những thiên kiến, nói về các cuộc cách mạng của Việt Nam [cũng là một cách] để ủng hộ cho cái nhìn dân tộc chủ nghĩa vào quá khứ, và thảo luận về những chính sách của người Pháp có gốc rễ sâu xa từ hướng tiếp cận Âu tâm luận đối với lịch sử Việt Nam.

Cả hai hướng tiếp cận trên đều lược bỏ vị trí của nhà Nguyễn như một triều đại thiếu hiệu quả và không quan trọng. Tuy nhiên, cả hai cách tiếp cận này lại có chung một động cơ khi tạo ra sự lược bỏ ấy, đó là nhằm mục đích đề cao tính chính thống của họ.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đánh giá một cách đúng mức cẩn thận về vai trò của nhà Nguyễn, và nếu chúng ta cố gắng để đọc những văn bản mà giới trí thức triều đó để lại?

Tôi nói chỉ ra rằng, khi chúng ta làm điều đó, cách hiểu của chúng ta về Việt Nam đầu thế kỷ XX sẽ thay đổi. Vâng, đã có những nhà cách mạng Việt Nam và những quan chức người Pháp, nhưng cũng có cả những người thậm chí là với số lượng rất lớn các ‘học giả truyền thống’ đã tự mình thay đổi để trở thành những ‘trí thức hiện đại’, và họ cũng đã có những cố gắng hướng giới trẻ Việt Nam theo những thay đổi ấy.

Và tất cả những điều này đều đã được chuẩn bị trước khi những năm 1920 bắt đầu, thời điểm diễn ra những cuộc thay đổi thực sự.

Nguồn: Rethinking the History of Early-Twentieth-Century Vietnam by Liam Kelley, 5/11/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch ngày 10/11/2016.

LIAM KELLEY- QUỐC TỬ GIÁM VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH CỦA LỐI HỌC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1910

fuxitonk2.jpg

Năm 1909, học giả cải cách triều Nguyễn Phạm Quang Sán đã đưa ra một thí dụ về bộ câu hỏi và trả lời mang tính lý thuyết cho kỳ thi khoa cử với mục đích muốn chỉ ra rằng nguồn gốc của cả nền học vấn Tây Phương nằm ngay ở Châu Á và người dân Châu Á giờ đây cần học tập khoa học của Phương Tây để gặt hái thành quả từ những hạt mầm tri thức mà chính họ là những người đã ban đầu gieo xuống. Thêm nữa, với việc làm đó, Phạm Quang Sán muốn lập luận rằng dân Châu Á về sau sẽ hoàn toàn có thể cạnh tranh với người Tây Phương để đạt đến một mức độ ngang bằng hơn về tri thức.

Một năm sau, 1910, thực tế đã có một câu hỏi như vậy trong đề thi khoa cử yêu cầu thảo luận về giá trị của kiến thức Tây phương cũng như giá trị của những tác phẩm cải cách được xuất bản bởi những người như Phạm Quang Sán. Câu trả lời mẫu mực được xuất bản năm đó đã phủ nhận giá trị của cả nền Tây học lẫn kiến thức của những nhà cải cách bằng việc chỉ ra rằng tất cả những kiến thức đó đều có thể tìm thấy trong các kinh điển (Nho giáo).

Do vậy, rõ ràng vào thời điểm đó đã có những quan điểm khác nhau giữa những người trong giới tinh hoa truyền thống về Tây học. Tuy nhiên, cũng dễ để thấy rằng vào cuối những năm 1910, những người trong giới tinh hoa đó hầu hết đã chấp thuận kiến thức Tây phương.

Sự chấp thuận đó đã diễn ra như thế nào?

qtg1.jpg

Tôi cho rằng nó đã diễn ra chính xác theo cách mà Phạm Quang Sán đã cố gắng để tạo nên thay đổi trong cuốn Sách học tân tuyển năm 1909 của ông, bằng việc xem xét tri thức phương Tây thông qua kinh điển và dùng kinh điển để hợp thức hóa tri thức phương Tây.

Chúng ta có thể thấy điều này qua một thực thế rằng ngày càng có nhiều những xuất bản phẩm chính thức vào năm 1911 tương tự như cách triển khai mà nhà cải cách Phạm Quan Sán đã áp dụng trước đó vài năm. Văn bản có tên gọi Sách văn tân thức này bao gồm những câu hỏi và đáp án được biên soạn bởi những học giả Quốc Tử Giám- một thiết chế giáo dục chính chống cao nhất cả nước.

Vì vậy, khác với những xuất bản cá nhân của Phạm Quang Sán, cuốn Sách văn tân thức trình bày những ý tưởng mang tính chính thống của triều Nguyễn về những gì mà các thí sinh được kỳ vọng phải đáp ứng. Thật thú vị, với việc đề cập đến vấn đề Tây học, cuốn sách năm 1911 này đã cho thấy những ý tưởng và một cách tiếp cận tương tự như của Phạm Quang Sán.

fx1.jpg

Với cùng chủ đề về Kinh Dịch và việc sản xuất tri thức như trong kỳ thi năm 1911, câu hỏi và đáp án mẫu trong Sách văn tân thức năm 1911 cũng nói về 13 quẻ trong Kinh Dịch đã được cổ nhân quan sát và dựa vào đó để chế tạo công cụ.

Tuy nhiên, câu hỏi lúc này lại chỉ ra rằng quá trình chế tạo công cụ dựa trên sự quan sát đồ hình của các quẻ trong Kinh Dịch trên cũng đã từng được năm vị thánh nhân [ngũ thánh] thực hiện, đó là: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu và Thuấn.

Hay nói cách khác, câu hỏi này đã đưa thêm vấn đề về ‘thời đại’ ra để bàn luận và hỏi rằng vì sao lại có việc 5 vị thánh khác nhau lại tạo ra những thứ cũng rất khác nhau ở các thời đại khác nhau? Câu hỏi đặt thêm một băn khoăn rằng liệu có thể nào mà họ cũng đã chế tạo ra các công cụ khác vượt ra ngoài sự cho phép của giới hạn thời đại hay không.

covera1.jpg

Cụ thể câu hỏi ấy như sau:

十三挂制器尚象,皆通變宜民之事,必歷五聖而後備,將前此智慮有不及歟。兹欲與民宜之,當如何。

“Mười ba quẻ và sự quan sát đồ hình của những quẻ ấy để chế tác công cụ đều nhằm tạo nên những biến đổi giúp ích cho người dân. Chúng chắc hẳn đã phải trải qua [sự ứng dụng và phát triển] của 5 vị thánh nhân trước khi trở nên hoàn thiện. Vậy còn có những [vấn đề] nào nữa mà [các quẻ này] không đề cập đến không? Nếu ngày nay muốn người dân thích ứng [kịp] với thời đại thì có thể làm những gì?” (dịch theo nguyên bản tiếng Anh của Mr. Kelley)

“Thông biến nghi dân 通變宜民” (tạo những thay đổi giúp ích cho dân) và dữ dân nghi chi 與民宜之 (cùng dân thích nghi với những thay đổi ấy) là hai khái niệm quan trọng trong đoạn văn từ Kinh Dịch về sự chế tác của cổ nhân sau khi quan sát đồ hình của các quẻ.

Ý tưởng đằng sau những khái niệm này là: bậc tiền nhân là những chuyên gia trong việc biết chính xác những loại thay đổi nào nên được đem đến để giúp dân, và họ cùng biết một cách chính xác làm thế nào để thực hiện những điều đó để dân có thể dễ dàng thích ứng với những thay đổi mà không bị quá sức hay  ‘mỏi mệt’ (quyện 倦).

pagea1

Hãy cùng nhìn vào cách mà câu hỏi này được trả lời trong Sách văn tân thức:

且隨時之義大矣哉。伏羲以前,干支定歲,而星曆之法所由興,架木為巢,而宮室之制所自始。一代之興,必有一代之制也。惟風氣之開以漸,聖人亦不能先天而強為,即尚象制器,如舟楫取渙,耒耜取益者,皆因時以施宜,而衣裳取諸乾坤,且必俟一元文明之會。通變宜民之事,必歷五聖而後備者,以時合如此變易耳。

“Tuyệt vời thay cái ý tùy thời! Trước thời Phục Hy, can chi đã được dùng để chia năm, lịch pháp đã được tính dựa trên sự di chuyển của các chòm sao. Gỗ ban đầu được chụm lại làm tổ và sau đó mới làm nhà. Sự hưng thịnh của mỗi thời đi kèm với những chế tác của thời đó. Vì điều kiện hoàn cảnh được cải thiện dần theo thời gian, cổ nhân không thể thắng Trời mà vượt nhanh hơn được. Vì vậy, dựa vào quan sát đồ hình mà chế khí, như thuyền và chèo dựa vào quẻ Hoán, lưỡi cày và đòn cày dựa vào quẻ Ích, tất cả đều được dùng để tạo ra những công cụ hợp thời. Còn như quần áo dựa vào quẻ Càn và Khôn thì phải đợi đến một thời đại văn mình nhất định mới được tạo. Biến dịch giúp ích cho dân phải trả qua thời của 5 thánh nhân trước khi chúng được hoàn thiện để mỗi thời đại lại phù hợp với những thay đổi nhất định khác nhau.”

Vậy là trên đây chúng ta đã hiểu vì sao có 5 vị thánh nhân dựa vào đồ hình biến dịch để chế khí. Đơn giản bởi vì họ ‘tùy thời’ mà tạo nên những biến đổi phù hợp với thời đại ấy.

Tuy nhiên, họ đã thực sự tạo ra tất cả các thay đổi cần thiết chưa? Đó là vấn đề mà phần tiếp theo của câu trả lời đề cập đến.

qtg2

曾謂前此皆開物成務之聖,而智慮有不及哉。試時知化,古今無異道也。與民宜之,使民不倦,其在  今日乎。環球交通,文明開化,今又非黃農虞夏之時也。弧矢舟楫,昔可以威天下,可以濟不通,而今砲非火不宜,船非汽不宜矣。乘車耒耜,昔可以興農利,可以致遠途,而今車非電氣不宜,農非機器不宜矣。

“Người ta vẫn từng cho rằng quá trình chế tạo (mà Kinh Dịch nói đến) đã sáng tạo ra tất cả các vật và hoàn thiện cả rồi, chẳng còn gì không đề cập đến cả. Suy xét thời thế để biết mà thay đổi, từ xưa đến nay chỉ có duy nhất một con đường đó thôi. Giúp dân thích nghi với thay đổi, đảm bảo rằng người dân không bị mỏi mệt khi cải cách diễn ra, điều đó có đang diễn ra ở thời nay hay không?

Thế giới giờ đã được kết nối và đang chuyển dịch bởi văn mình, nhưng thời nay không giống với thời Hoàng Đế, Thần Nông, Ngu hay Hạ. Cung, tên, thuyền hay chèo ngày trước đều có thể nhờ Trời mà có, có thể đi đến những địa điểm khác nhau. Tuy nhiên, ngày nay nếu một khẩu đại bác không có ngòi lửa sẽ không thích hợp, một chiếc thuyền không chạy bằng máy hơi nước cũng không phù hợp nốt. Xe ngựa và lưỡi cày ngày trước có thể đem lại lợi ích nông nghiệp và có thể đưa con người đi xa. Nhưng bây giờ, nếu một phương tiện di chuyển không được gắn máy sẽ không còn phù hợp nữa và nếu máy móc không được dùng cho nông nghiệp thì cũng không phù hợp vậy.”

Vì thế, cổ nhân đã không tạo ra tất cả những thay đổi cần thiết [cho cả hiện tại và tương lai]. Họ chỉ tạo ra những cải cách phù hợp với thời họ sống, nhưng thời nay đã rất khác với trước kia rồi nên những công cụ mới cần được tạo ra.

Hơn nữa, những công cụ mới đang được chế tạo đều đến từ phương Tây, do đó, logic ở đây là cứ vô tư chấp nhận những cách thức của phương Tay như những sự thay đổi phù hợp với thời đại, và đó là những gì mà tiền nhân đã không thể đem lại được vì chúng chưa phù hợp với thời họ sống.

Kết luận sau đó hướng đến sự so sánh kiến thức cổ điển với Tây học. Ngôn ngữ [trong văn bản này] khá rắc rối vì nó kết hợp cả từ ngữ cổ lẫn hiện đại, nhưng có thể rút ra rằng văn bản đang muốn kêu gọi mọi người nên trau dồi cả kiến thức cựu học lẫn phương Tây.

shennong2處競爭世界,而思以競舞臺之優勝,六學即文明攝影,固當會五洲哲理,補包犧河馬之陳編,當半開時代,而思以開智腦之精英,百工皆道器所行,尤當吸歐美全神,花雄貉仙龍之祖國。十三卦尚象,法乎聖人之意,而神化乎十三卦之義。是所望於  新政府與保護政府之籌劃特為開民智計也。

“Trong một thế giới cạnh tranh, nếu muốn vươn lên áp đảo thời đại, 6 kinh điển [Nho giáo] chính là sự thâu tóm hình ảnh của văn minh; vì vậy, nên tích lũy cái trí khôn của năm châu cộng với việc trau dồi thêm Hà Đồ của Phục Hy. Trong một thời đại bán khai, nếu muốn phát triển trí não tinh anh, các quan phải là hiện thân của đạo khí và cũng nên thâu thái tinh thần cạnh tranh của Âu Mỹ để làm đẹp tổ quốc rồng tiên Hùng Lạc. Đồ hình của mười ba quẻ đã được định dạng bởi các tiền nhân và một cách tuyệt vời, cũng tự chuyển biến bằng chính ý nghĩa của các quẻ ấy. Đây là hy vọng (của tôi) cho những kế sách của nhà nước và chính quyền bảo hộ nhằm có những phương cách thích hợp để khai hóa chúng dân.”

kd2

Tuy tôi không thấy văn bản này rõ ràng và thuyết phục như của Phạm Quang Sán nhưng cả hai văn bản đều hướng đến một đích chung: người Việt Nam cần phải chấp nhận và tiếp thu kiến thức Tây phương.

Cách thức ít rõ ràng hơn mà những ý tưởng trong bài viết trên được bày tỏ có thể phản ánh một thực tế rằng nó đến từ giới quan chức chính thống của Quốc Tử Giám và cũng vẫn còn có những thành viên trong giới quan chức triều Nguyễn phản đối việc tiếp thu Tây học vào thời điểm đó. (như kỳ thi năm 1910 cho thấy). Có thể đó cũng là nguyên nhân khiến những người trong Quốc Tử Giám phải tìm một cách ít trực tiếp hơn để nói nên quan điểm tương đồng với Phạm Quang Sán sao cho phe đối đầu không trở nên quá phẫn nộ.

Dù thế nào đi nữa, tài liệu này rất quan trọng vì nó cho thấy rằng giới quan chức triều Nguyễn đã tỏ ra ủng hộ với sự tiếp thu kiến thức Tây phương.

Nó cũng quan trọng bởi vì nó cho thấy rằng một vài khái niệm Phương Tây- như khái niệm Văn minh và những ý tưởng cạnh tranh của Chủ nghĩa Darwin về xã hội- đã được dùng một cách rất hiển nhiên vào năm 1911.

Điều này có thể đem đến cho chúng ta một cái nhìn về sự chuyển dịch của giới tinh hoa truyền thống Việt Nam. Nó không phải trường hợp có những ‘khủng hoảng’ khiến tri thức truyền thống trở nên ‘bất lực’, giới tinh hoa triều Nguyễn trở nên trơ chọi và phải bị thay thế bởi các nhà cách mạng- những người duy nhất nhìn ra được con đường đúng đắn để đi theo.

Vâng, đã đó một số người như Phan Bội Châu và Phạm Quang Sán mà những tư tưởng của họ thay đổi rất nhanh. Tuy vậy, với đa số người có học ở đầu thế kỷ XX khi đó, thế giới truyền thống của họ không hề ‘chết đi’ và bị thay thế. Thay vào đó, một cách chậm rãi, nó đã chuyển mình sang Tây học.

Khi những kinh điển được đem ra dùng đề lý giải và đánh giá những kiến thức phương Tây, ngày càng có nhiều khái niệm Tây phương trở nên vô cùng quen thuộc với giới tinh hoa cựu học, đến nỗi câu hỏi cho kỳ thi khoa cử cuối cùng được vua Khải Định soạn ra cũng chứa đựng lối suy nghĩ (của Tây phương) về thế giới đã trở thành thường thức. Và bởi vì chúng là thường thức (như khái niệm về văn minh và sự cạnh tranh theo học thuyết Darwin về xã hội năm 1911), người ta không còn xem nó là những tư tưởng đến từ phương Tây nữa.

Cái học  truyền thống của họ đã chuyển dịch sang một thứ gì đó mới hơn rồi.

Nguồn: The Quốc Tử Giám and the Transformation of Traditional Learning in 1910s Vietnam by Liam Kelley, 5/11/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch ngày 10/11/2016.

LIAM KELLEY- CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ QUÁ TRÌNH TỰ- HIỆN ĐẠI HÓA CỦA GIỚI TINH HOA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

trad-elite.jpg

Ở bài viết trước, tôi đã nói đến một cuốn sách được xuất bản năm 1909 của một học giả cải cách cũng là quan chức triều Nguyễn- Phạm Quang Sán nhằm giới thiệu cho các sĩ tử đang luyện thi khoa cử bấy giờ những tư tưởng mới của Tây phương.

Bên cạnh rất nhiều câu hỏi và đáp án đề cập đến những vấn đề rất mới, trong cuốn sách lại cũng xuất hiện những câu hỏi và đáp án gần như theo đúng những khuôn mẫu và ý tưởng truyền thống.

Kỳ thi khoa cử khi đó chứa đựng những câu hỏi dựa trên những kinh điển Nho giáo và Kinh Dịch là loại hay được hỏi nhất. Trong một post trước đây, tôi đã bàn đến câu hỏi liên quan tới Kinh Dịch trong kỳ thi năm 1910, và câu trả lời mẫu sau đó được cũng đã được xuất bản cùng năm.

Câu hỏi và đáp án trả lời đó đã cực kỳ gây tranh cãi vì nó phủ định cả Tây học lẫn những tư tưởng cải cách của các học giả Châu Á như Lương Khải Siêu và thay vào đó đề xuất rằng tất cả kiến thức trên thế giới đều có thể tìm được trong Kinh Dịch (hay có thể được tạo ra từ Kinh Dịch).

duy-tan.jpg

Trong cuốn Sách học tân tuyển năm 1909, Phạm Quang Sán đã đưa vào một câu hỏi về Kinh Dịch như dưới đây:

易之要何所在歟。有謂一卦有一卦之時,一爻有一爻之時,何得聞歟。今之時何時乎。歐治風俗,學術技藝,當如何改良以合隨時之義。

“Bản chất của biến dịch là gì? Có người nói mỗi quẻ lại có thời của nó, mỗi hào cũng có thời của nó. Làm thế nào để biết được vậy? Thời nay là thời gì? Với sự cai trị của phong tục, học thuật và kỹ nghệ phương Tây, làm sao để cải cách mà vẫn giữ theo đúng cái nghĩa ‘tùy thời’?” (Chúng tôi dịch theo nguyên bản tiếng Anh để tuân thủ đúng cách hiểu của tác giả)

Trả lời câu hỏi, Phạm Quang Sán đã dẫn ra một câu của Trình Di- một học giả Tống Nho: “Dịch là biến đổi, biến đổi tùy thời và phải theo đạo” (易,變易也,隨時變易以從道也。)

Và loại thay đổi nào Phạm Quang Sán nghĩ rằng sẽ phù hợp với thời đại của ông ta? Giống như một cơ số người khác, ông cũng cảm thấy rằng, hơn một ngàn năm, chế độ độc tài chuyên chế nên được thay thế bởi chính thể cộng hòa. (千餘年之專制獨裁,當易之為共和之政體。)

a2.jpg

Một lần nữa, trong khi câu hỏi này gần như theo khuôn thức ‘truyền thống’ khi hỏi về những điều trong Kinh Dịch, nhưng sau cùng, nó lại chuyển hướng sang một tinh thần mới triệt để.

Có lẽ đó là nguyên nhân khiến kỳ thi năm 1910 gây nhiều tranh cãi. Thời điểm từ 1907 -1910 là một giai đoạn rất sôi động trong lịch sử Việt Nam, khi mà những nhà cải cách nỗ lực để giới thiệu những tư tưởng và hình thức giáo dục mới còn người nông dân thì kịch liệt chống sưu cao thuế nặng.

Chúng ta thường nghĩ rằng người Pháp lẽ ra mới là những người duy nhất muốn đàn áp những phong trào này, nhưng kỳ thi năm 1910 cho thấy rằng ít nhất còn có thêm một vài cá nhân trong giới tinh hoa triều Nguyễn cũng muốn chống lại những thay đổi.

Tuy nhiên, tất cả bọn họ đều đã thất bại, bởi vì khi kỳ thi khoa cử cuối cùng được tổ chức năm 1919, vua Khải Định đã hỏi về những vấn đề rất giống với những gì mà nhà cải cách Phạm Quang Sán đã giới thiệu một thập kỷ trước đó.

Nhưng vua Khải Định đã làm điều đó mà không có bất cứ sự tham khảo nào đến Kinh Dịch cũng như những kinh điển Nho gia khác. Vậy là đến năm 1919, thậm chí trong mắt một người đường đường là vua của triều Nguyễn, những kinh điển Nho gia đã hoàn toàn trở nên vô dụng.

np1.jpg

Câu hỏi của vua Khải Định bắt đầu như sau:

制策曰,環球列國動曰文明。文明二字出自何書。關於人倫國政世道民風旨盡包矣。求諸亞東,中之唐虞以及清滿,我之丁朝迄于後黎,揖遜戰爭興衰分合一一可考。語其變遷沿革,莫非氣數使然。究中治亂紛紛世代不一文明乎。有謂帝國專制籠罩其民,果磪輪否。然則亞東幾千年之帝國政策意者文明誤點歟。

“Rất nhiều nước trên toàn cầu cứ hay nói về văn minh. Hai chữ ‘văn minh’ ấy đến từ sách nào? Nghĩa của nó bao gồm mọi thứ từ quan hệ giữa người với người đến sự điều hành đất nước, đến đạo đức của một thời đại, đến phong tục của chúng dân. Nhìn vào phương Đông, ở Trung Quốc từ Nghiêu Thuấn đến Thanh Mãn Châu, và ở ta từ Đinh đến Hậu Lê, mỗi khi thoái vị, chiến tranh, thịnh rồi suy, phân rã rồi nhất thống đều có thể điều tra được. Nói theo sự biến dịch và phát triển qua thời gian, tất cả những điều này chẳng là gì ngoài quy luật của số phận. (Tuy nhiên,) khảo xét về sự bình định ở Trung Quốc qua quá nhiều thời đại, đó có phải là một nước văn minh không? Khi người ta nói về sự chuyên chế bá quyền bao phủ lên chúng dân, đó phải chăng chỉ là một nhận xét sai lầm không? Và có phải điều này có nghĩa là hàng ngàn năm dưới chính sách bá quyền ở phương Đông là hoàn toàn nằm ngoài thời đại văn minh không?”

kd.jpg

Trong câu hỏi này (thực tế là câu hỏi dài hơn thế- đây chỉ là đoạn văn mở đầu), vua Khải Định đã suy nghĩ về lịch sử lâu dài của sự chuyên chế ở châu Á và là một vị vua chuyên chế, ông đang băn khoăn rằng liệu một thiết chế như vậy có thể tiếp tục tồn tại trong thời đại ‘văn minh’ được nữa hay không. Thêm vào đó, ở đoạn sau, ông cũng hỏi về việc liệu có thích hợp chăng khi lập một hiến pháp trên nước mình.

Một thập niên sau khi Phạm Quang Sán đầu tiên tạo một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm dấy nên những vấn đề cải cách, vị vua của triều Nguyễn đã đưa ra những ý tưởng tương đồng.

Còn nữa, nếu chúng ta xem xét 1) Nỗ lực triệt để của Phạm Quang Sán năm 1909 nhằm thay đổi tư tưởng của sỹ tử khoa cử, 2) những câu hỏi và đáp án gây tranh cãi dữ dội năm 1910, và 3) Câu hỏi vô vùng ‘hiện đại’ của vua Khải Định năm 1919, tôi nghĩ rằng nó đã rõ ràng rằng một sự chuyển dịch to lớn đã diễn ra trong khoảng những năm 1909 và 1919 trong giới tinh hoa ‘truyền thống’ Việt Nam.

Những con người trong cuộc tranh cãi khôn nguôi của Việt Nam đã hiện đại hóa. Và họ đã tự mình làm lấy mà không cần đến những cuộc cách mạng hay những trường học của người Pháp.

Tại sao câu chuyện này không bao giờ được kể trước đây nhỉ?

Nguồn: The Untold Story of the Self-Modernization of Vietnam’s Traditional Elite by Liam Kelley, 3/11/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch 10/11/2016.

LIAM KELLEY- NỖ LỰC CỦA PHẠM QUANG SÁN NHẰM CẢI CÁCH KHOA CỬ

coverwstdt

Năm 1919, một năm sau khi xuất bản một cuốn sách giáo khoa nhằm hiện đại hóa giáo dục trung học, học giả cải cách và cũng là quan chức triều Nguyễn đã xuất bản một cuốn sách nhỏ khác với mục đích hướng đến những người học cao hơn, những người đang chuẩn bị cho kỳ thi khoa cử.

Có tên gọi Sách học tân tuyển 策學新選, cuốn sách này nhằm trình bày những mẫu câu hỏi và đáp án trả lời mà thí sinh có thể gặp phải trong các kỳ thi, cũng như những ví dụ mẫu về phương pháp trả lời câu hỏi cho học viên.

Những cuốn sách hướng dẫn luyện thi như thế này là một dạng sách phổ biến lúc đó. Chẳng hạn, trong suốt thế kỷ XIX và sang cả thế kỷ XX, một văn bản được biết đến dưới tên gọi Hội đình văn tuyển 會庭文 tập hợp những câu hỏi thực tế từ các kỳ thi trước ,và thậm chí ngay cả những câu trả lời thực hay kèm theo những đáp án mẫu cũng thường xuyên được xuất bản.

Vì vậy, nhìn thoáng qua, cuốn sách của Phạm Quang Sán chẳng có gì mới, nhưng trên thực tế, nội dung của nó chứa đựng những tư tưởng cải cách lớn lao, vì nó cung cấp những câu hỏi và đáp án trả lời cho những vấn đề không hề giống với bất cứ nội dung của kỳ thi nào tại thời điểm đó.

hoidinh1.jpg

Chẳng hạn, câu hỏi đầu tiên yêu cầu thí sinh phải nói về lịch sử bành trướng của Thái Tây vào Á Châu và thảo luận về loại chính sách ngoại giao nên được triển khai để đương đầu với phương Tây. Đáp án mẫu cung cấp một cách cực kỳ chi tiết về sự trỗi dậy của phương Tây và lịch sử sự bành trướng của nó vào châu Á.

Có một câu hỏi về văn minh, rằng nếu văn mình là một thứ gì đó thuộc về khu vực hoặc được phát triển trong xã hội con người, và nếu châu Á trở nên văn minh thì tại sao nó lại không ở tầm mức phát triển như của Châu Âu và Mỹ.

Một câu hỏi khác hỏi về lịch sử Phật giáo ở Việt Nam. Nó kết thúc bằng lưu ý rằng tôn giáo có thể dẫn đến xung đột trong nhân dân và hỏi về cách thức để làm dịu bớt nguy cơ đó.

Một câu hỏi nữa lại trích dẫn câu “Tu đạo chi vị giáo”  修道之謂教 trong kinh Trung Dung của Nho giáo và yêu cầu thí sinh giải thích nghĩa của câu đó. Sau đó, câu hỏi đề cập đến việc người phương Tây thường dạy học trò trong các trường học. Vào những năm gần đây, rất nhiều trường học cũng đã được thành lập ở Việt Nam nhằm trở nên văn minh hơn, nhưng vì sao mức độ văn minh ở xứ mình vẫn duy trì ở mức thấp như vậy?

page1.jpg

Còn có rất nhiều câu hỏi khác như thế trong cuốn sách nhỏ này, và như một bài viết gần đây của tôi về kỳ thi năm 1910 đã chỉ ra, những câu hỏi và đáp án trong cuốn sách này không hề giống trong bất cứ một kỳ thi nào vào thời điểm đó.

Những gì mà Phạm Quang Sán đang làm ở đây thực tế không phải để giúp học trò đỗ kỳ thi khoa cử, mà thay vào đó, nhằm để cùng một lúc cải cách khoa cử và xã hội.

Điều này thật ấn tượng! Hệ thống giáo dục khoa cử đã bị các nhà cải cách khắp Đông Á phê bình ở đầu thế kỷ XX như một vật cản trên tiến trình cải cách và hướng đến văn minh (những khái niệm mới mà họ đã học được từ phương Tây). Cách tiếp cận của hầu hết các nhà cách mạng, từ Lương Khải Siêu đến Phan Bội Châu, là phá bỏ khoa cử và đề cao những tư tưởng [tiên tiến] của họ.

Ngược lại, Phạm Quang Sán đã cố gắng đưa tinh thần cải cách tiến bộ vào khoa cử và tạo nên một cố gắng trực tiếp nhằm thay đổi tư tưởng cố hữu của những người thuộc phe đối lập trong giới tinh hoa có học của Việt Nam.

Nó là một cải cách lớn lao!

Nguồn: Phạm Quang Sán’s attempt to revolutionize the civil service exam (khoa cử) by Liam Kelley, 3/11/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch 10/11/2016.

Liam C. Kelley- Nhà Ngô trong Dư địa chí không phải nhà Minh

dudiachi.jpg

Được sáng tác từ thế kỉ XV và rất nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay, Bình Ngô đại cáo đang được xem là một dạng “tuyên ngôn độc lập”, viết khi quân Minh buộc phải rút khỏi đồng bằng sông Hồng sau hai thập kỉ đô hộ.

Nhiều năm qua, tôi đã gặp nhiều vấn đề với cách diễn giải trên về tài liệu này và cũng có nhiều bài viết trên blog của tôi hướng vào chủ đề đó. Tôi không coi tài liệu trên là một bản “tuyên ngôn độc lập”, mà coi đó là một bản “tuyên ngôn về chiến thắng” của một bộ phận người Việt này với một bộ phận [Người Việt] khác.

Bộ phận chiến thắng ở thời điểm đó là nhóm những người ủng hộ Lê Lợi, người đã đánh đuổi quân Minh và lập nên triều đại nhà Lê. Từ góc độ của một cơ số người trong giới tinh hoa Hà Nội (và có thể thêm một số vùng duyên hải như Hải Dương), Lê Lợi chỉ là một “gã nhà quê”, và vì thế, họ không ủng hộ ông ta. Thay vào đó, họ chọn hợp tác với quân Minh.

“Bình Ngô đại cáo” chỉ ra điều này rất rõ khi nhấn mạnh rằng trong suốt nhiều năm, Lê Lợi phải tự mình đối đầu với nhà Minh.

Đó là một phát ngôn rất kì quặc đối với một “tuyên ngôn độc lập”. Sao một bản “tuyên ngôn độc lập” lại không nhấn mạnh vào việc “tất cả mọi người đã đoàn kết lại với nhau” như thế nào để chống ngoại xâm?

1.jpg

Đó là một điểm có vấn đề trong cách diễn giải hiện hành về tư liệu này. Một điểm khác nữa là việc hiện nay mọi người cho rằng khái niệm “Ngô” trong nhan đề chỉ nhà Minh. Nhưng đó rõ ràng không phải là đối tượng khái niệm này nhắc tới.

Chứng cứ rõ ràng cho điều này xuất phát từ Dư địa chí, một văn bản được viết bởi Nguyễn Trãi- một học giả ủng hộ Lê Lợi.  Trong văn bản có đoạn nói như sau:

“Người trong nước không nên làm theo/ bắt chước ngôn ngữ hay trang phục của Ngô, Chiêm (Chăm), Lào, Xiêm và Chân Lạp (Khmer) vì nó sẽ làm rối phong tục dân tộc”.

Nếu chúng ta chỉ mới đọc một dòng ấy sẽ thấy dường như Nguyễn Trãi hẳn là đã sử dụng khái niệm “Ngô” ở đây để chỉ “người Trung Quốc”.

Tuy nhiên, ông tiếp tục giải thích rằng “Người Ngô lâu ngày nhiễm thói tục của người Nguyên, tóc xõa, răng trắng, áo ngắn mà tay áo dài, mũ xiêm lòe loẹt, lớp lớp như lá” (吳人久淪元俗,被髮白齒,短衣長袖,冠裳燦爛,如葉之重者).[nguyên bản tiếng Việt của tác giả]

Đó chẳng phải là một nhận định kì quặc về người “Trung Quốc” hay sao?  Sau cùng, người Trung Quốc luôn luôn để răng trắng. Chỉ có người Việt không để răng trắng mà thôi. Vì vậy, nếu “có răng trắng” là một biểu hiện của việc “lâu ngày nhiễm thói tục của người Nguyên”, thì nhận định này rõ ràng không thể nói về “người Trung Quốc”.

Hơn nữa, vài dị bản của văn bản này viết rằng “Người Minh tuy khôi phục áo mũ Hán Đường xưa, nhưng thói tục của họ (tức người Ngô) vẫn không đổi”.(明人雖復漢唐衣冠之舊而其俗未變).[nguyên bản tiếng Việt của tác giả]

Đoạn văn này trong Dư địa chí được tiếp nối bởi bình luận của Lý Tử Tấn, một người cùng thời với Nguyễn Trãi:

“Sau khi quân Nguyên tràn vào Trung Quốc, cả thiên hạ biến đổi theo phong tục người Hồ (nghĩa là bọn mọi rợ du mục/phía Bắc) và tiếng Hồ. Những nơi không thay đổi chỉ có nước ta, họ Chu ở Kim Lăng và họ Triệu ở Kim Sơn/ Vương Sơn.

“Họ Chu ở Kim Lăng” rõ ràng nhắc tới gia tộc thống trị triều Minh. Còn họ Triệu, hiển nhiên cũng chỉ gia tộc thống trị triều Tống, dù các dị bản của văn bản này xác định họ Triệu với các địa danh khác nhau (Kim Sơn, Vương Sơn, vv…)

Vậy theo Lý Tử Tấn, gia tộc thống trị triều Minh không phải “lâu ngày nhiễm thói tục người Nguyên”. Vì vậy, gia tộc thống trị triều Minh rõ ràng không phải nhà Ngô. Và theo Nguyễn Trãi, “người Minh” khôi phục áo mũ Hán Đường xưa, vì vậy “người Minh” rõ ràng không phải gia tộc thống trị triều Minh, theo ý kiến này, gia tộc thống trị triều Minh chưa bao giờ thay đổi cách ăn mặc cả.

Giới quý tộc cầm quyền Việt cũng không thay đổi cách ăn mặc, vì Lý Tử Tấn nói rằng, khi nhà Minh nắm quyền, nhà Trần đã gửi sứ thần sang nhà Minh và được khen ngợi vì vẫn giữ lối ăn mặc cũ (kiểu Tống).

Do vậy, gia tộc thống trị triều Minh không phải là nhà Ngô, và những người mà nhà Minh thống trị cũng không phải là nhà Ngô. Hơn nữa, văn bản này chỉ ra rằng Nguyễn Trãi và Lý Tử Tấn đồng tình với những hành động của nhà Minh và những người dân của họ [nhà Minh], trong khi đó lại hoàn toàn không thích những hoạt động văn hóa của nhà Ngô.

Vậy, nhà Ngô là ai?!!

Một lần nữa, tôi nghĩ John Whitmore đã đúng khi cho rằng nhà Ngô là những thành viên của một cộng đồng “người Hoa” ở duyên hải Đại Việt, và những người này đã bắt tay với quân Minh xâm lược. Điều đó đã trở thành một thứ “quyền lực địa phương” tiềm tàng thách thức đối với sự chính thống của Lê Lợi sau khi quân Minh rời đi.

Đó là nhóm người mà Nguyễn Trãi cần phải “tuyên bố bình định” trong Bình Ngô đại cáo.

Nói cách khác, như tôi vẫn luôn lập luận, tài liệu này thể hiện rằng “bây giờ chúng ta đang nắm quyền và các ngươi phải tuân theo những mệnh lệnh của chúng ta”.

Dư địa chí còn nói gì với chúng ta về nhà Ngô nữa? Chúng ta có thể suy đoán rằng nhà Ngô là một nhóm người có thể liên kết với người Hoa thông qua giao thương, nhưng có lẽ họ không có học bằng những người như Nguyễn Trãi, và vậy nên họ không nghĩ nhiều tới việc phải ăn mặc theo một cách nào đó.

Có lẽ, nhiều người trong số họ là “người Hoa” tới Đại Việt, bị “mất gốc”. Họ nhuộm răng và cột tóc cao giống như giới tinh hoa người Việt, nhưng trong những năm trước khi nhà Minh nắm quyền, họ “nhiễm thói tục người Nguyên”, thả tóc xuống và ngừng việc nhuộm răng cũng như thay đổi cách ăn mặc.

Hoặc có lẽ, đó là cộng động “lai” giữa người Hoa và người Việt, nhiều người trong số đó đã liên hôn, và có lẽ đó là những người Việt trong cộng đồng này bị Nguyễn Trãi phê phán vì thay đổi cách ăn mặc và không còn nhuộm răng đen, cột tóc cao nữa.

Đây là một giả thuyết, nhưng một điểm mà Dư địa chí đã hoàn toàn làm rõ, đó là “nhà Ngô” không phải là “nhà Minh”. Khái niệm này ám chỉ một đối tượng khác. Và như tôi luôn tranh luận, tôi cho rằng nó ám chỉ một nhóm địa phương- những người không ủng hộ Lê Lợi, vì vậy ông ta phải tự mình đấu tranh chống lại quân Minh, cũng là một điểm mà Bình Ngô đại cáo lại nhấn mạnh rõ ràng.

NguồnThe Ngo in the Dư địa chí were not the Ming by Liam C. Kelly ngày 2/8/2016. Cherry Dương lược dịch ngày 5/8/2016.