Liam C. Kelley- Nhà Ngô trong Dư địa chí không phải nhà Minh

dudiachi.jpg

Được sáng tác từ thế kỉ XV và rất nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay, Bình Ngô đại cáo đang được xem là một dạng “tuyên ngôn độc lập”, viết khi quân Minh buộc phải rút khỏi đồng bằng sông Hồng sau hai thập kỉ đô hộ.

Nhiều năm qua, tôi đã gặp nhiều vấn đề với cách diễn giải trên về tài liệu này và cũng có nhiều bài viết trên blog của tôi hướng vào chủ đề đó. Tôi không coi tài liệu trên là một bản “tuyên ngôn độc lập”, mà coi đó là một bản “tuyên ngôn về chiến thắng” của một bộ phận người Việt này với một bộ phận [Người Việt] khác.

Bộ phận chiến thắng ở thời điểm đó là nhóm những người ủng hộ Lê Lợi, người đã đánh đuổi quân Minh và lập nên triều đại nhà Lê. Từ góc độ của một cơ số người trong giới tinh hoa Hà Nội (và có thể thêm một số vùng duyên hải như Hải Dương), Lê Lợi chỉ là một “gã nhà quê”, và vì thế, họ không ủng hộ ông ta. Thay vào đó, họ chọn hợp tác với quân Minh.

“Bình Ngô đại cáo” chỉ ra điều này rất rõ khi nhấn mạnh rằng trong suốt nhiều năm, Lê Lợi phải tự mình đối đầu với nhà Minh.

Đó là một phát ngôn rất kì quặc đối với một “tuyên ngôn độc lập”. Sao một bản “tuyên ngôn độc lập” lại không nhấn mạnh vào việc “tất cả mọi người đã đoàn kết lại với nhau” như thế nào để chống ngoại xâm?

1.jpg

Đó là một điểm có vấn đề trong cách diễn giải hiện hành về tư liệu này. Một điểm khác nữa là việc hiện nay mọi người cho rằng khái niệm “Ngô” trong nhan đề chỉ nhà Minh. Nhưng đó rõ ràng không phải là đối tượng khái niệm này nhắc tới.

Chứng cứ rõ ràng cho điều này xuất phát từ Dư địa chí, một văn bản được viết bởi Nguyễn Trãi- một học giả ủng hộ Lê Lợi.  Trong văn bản có đoạn nói như sau:

“Người trong nước không nên làm theo/ bắt chước ngôn ngữ hay trang phục của Ngô, Chiêm (Chăm), Lào, Xiêm và Chân Lạp (Khmer) vì nó sẽ làm rối phong tục dân tộc”.

Nếu chúng ta chỉ mới đọc một dòng ấy sẽ thấy dường như Nguyễn Trãi hẳn là đã sử dụng khái niệm “Ngô” ở đây để chỉ “người Trung Quốc”.

Tuy nhiên, ông tiếp tục giải thích rằng “Người Ngô lâu ngày nhiễm thói tục của người Nguyên, tóc xõa, răng trắng, áo ngắn mà tay áo dài, mũ xiêm lòe loẹt, lớp lớp như lá” (吳人久淪元俗,被髮白齒,短衣長袖,冠裳燦爛,如葉之重者).[nguyên bản tiếng Việt của tác giả]

Đó chẳng phải là một nhận định kì quặc về người “Trung Quốc” hay sao?  Sau cùng, người Trung Quốc luôn luôn để răng trắng. Chỉ có người Việt không để răng trắng mà thôi. Vì vậy, nếu “có răng trắng” là một biểu hiện của việc “lâu ngày nhiễm thói tục của người Nguyên”, thì nhận định này rõ ràng không thể nói về “người Trung Quốc”.

Hơn nữa, vài dị bản của văn bản này viết rằng “Người Minh tuy khôi phục áo mũ Hán Đường xưa, nhưng thói tục của họ (tức người Ngô) vẫn không đổi”.(明人雖復漢唐衣冠之舊而其俗未變).[nguyên bản tiếng Việt của tác giả]

Đoạn văn này trong Dư địa chí được tiếp nối bởi bình luận của Lý Tử Tấn, một người cùng thời với Nguyễn Trãi:

“Sau khi quân Nguyên tràn vào Trung Quốc, cả thiên hạ biến đổi theo phong tục người Hồ (nghĩa là bọn mọi rợ du mục/phía Bắc) và tiếng Hồ. Những nơi không thay đổi chỉ có nước ta, họ Chu ở Kim Lăng và họ Triệu ở Kim Sơn/ Vương Sơn.

“Họ Chu ở Kim Lăng” rõ ràng nhắc tới gia tộc thống trị triều Minh. Còn họ Triệu, hiển nhiên cũng chỉ gia tộc thống trị triều Tống, dù các dị bản của văn bản này xác định họ Triệu với các địa danh khác nhau (Kim Sơn, Vương Sơn, vv…)

Vậy theo Lý Tử Tấn, gia tộc thống trị triều Minh không phải “lâu ngày nhiễm thói tục người Nguyên”. Vì vậy, gia tộc thống trị triều Minh rõ ràng không phải nhà Ngô. Và theo Nguyễn Trãi, “người Minh” khôi phục áo mũ Hán Đường xưa, vì vậy “người Minh” rõ ràng không phải gia tộc thống trị triều Minh, theo ý kiến này, gia tộc thống trị triều Minh chưa bao giờ thay đổi cách ăn mặc cả.

Giới quý tộc cầm quyền Việt cũng không thay đổi cách ăn mặc, vì Lý Tử Tấn nói rằng, khi nhà Minh nắm quyền, nhà Trần đã gửi sứ thần sang nhà Minh và được khen ngợi vì vẫn giữ lối ăn mặc cũ (kiểu Tống).

Do vậy, gia tộc thống trị triều Minh không phải là nhà Ngô, và những người mà nhà Minh thống trị cũng không phải là nhà Ngô. Hơn nữa, văn bản này chỉ ra rằng Nguyễn Trãi và Lý Tử Tấn đồng tình với những hành động của nhà Minh và những người dân của họ [nhà Minh], trong khi đó lại hoàn toàn không thích những hoạt động văn hóa của nhà Ngô.

Vậy, nhà Ngô là ai?!!

Một lần nữa, tôi nghĩ John Whitmore đã đúng khi cho rằng nhà Ngô là những thành viên của một cộng đồng “người Hoa” ở duyên hải Đại Việt, và những người này đã bắt tay với quân Minh xâm lược. Điều đó đã trở thành một thứ “quyền lực địa phương” tiềm tàng thách thức đối với sự chính thống của Lê Lợi sau khi quân Minh rời đi.

Đó là nhóm người mà Nguyễn Trãi cần phải “tuyên bố bình định” trong Bình Ngô đại cáo.

Nói cách khác, như tôi vẫn luôn lập luận, tài liệu này thể hiện rằng “bây giờ chúng ta đang nắm quyền và các ngươi phải tuân theo những mệnh lệnh của chúng ta”.

Dư địa chí còn nói gì với chúng ta về nhà Ngô nữa? Chúng ta có thể suy đoán rằng nhà Ngô là một nhóm người có thể liên kết với người Hoa thông qua giao thương, nhưng có lẽ họ không có học bằng những người như Nguyễn Trãi, và vậy nên họ không nghĩ nhiều tới việc phải ăn mặc theo một cách nào đó.

Có lẽ, nhiều người trong số họ là “người Hoa” tới Đại Việt, bị “mất gốc”. Họ nhuộm răng và cột tóc cao giống như giới tinh hoa người Việt, nhưng trong những năm trước khi nhà Minh nắm quyền, họ “nhiễm thói tục người Nguyên”, thả tóc xuống và ngừng việc nhuộm răng cũng như thay đổi cách ăn mặc.

Hoặc có lẽ, đó là cộng động “lai” giữa người Hoa và người Việt, nhiều người trong số đó đã liên hôn, và có lẽ đó là những người Việt trong cộng đồng này bị Nguyễn Trãi phê phán vì thay đổi cách ăn mặc và không còn nhuộm răng đen, cột tóc cao nữa.

Đây là một giả thuyết, nhưng một điểm mà Dư địa chí đã hoàn toàn làm rõ, đó là “nhà Ngô” không phải là “nhà Minh”. Khái niệm này ám chỉ một đối tượng khác. Và như tôi luôn tranh luận, tôi cho rằng nó ám chỉ một nhóm địa phương- những người không ủng hộ Lê Lợi, vì vậy ông ta phải tự mình đấu tranh chống lại quân Minh, cũng là một điểm mà Bình Ngô đại cáo lại nhấn mạnh rõ ràng.

NguồnThe Ngo in the Dư địa chí were not the Ming by Liam C. Kelly ngày 2/8/2016. Cherry Dương lược dịch ngày 5/8/2016.

Liam C. Kelley- Góc nhìn của chính quyền ở Việt Nam thế kỷ XV

Có một cuốn sách được biên soạn ở Việt Nam vào thế kỷ XV tên là Dư Địa Chí. Có ý kiến cho rằng công trình này được biên soạn đầu tiên bởi vị học giả- quan chức Nguyễn Trãi, nhưng các phiên bản tồn tại ngày nay chứa đựng cả những thông tin được các học giả đời sau thêm thắt vào.

Ngày nay, văn bản này vẫn thường được nói đến ở Việt Nam như một ví dụ về môn ‘địa lý học’thời kỳ đầu, hay như một công trình về ‘địa lý học lịch sử’. Như một học giả đã chỉ ra, ‘lần đầu tiên, Nguyễn Trãi đã đặt nền móng xây dựng khoa địa lý lịch sử của dân tộc Việt…’.

ddc-2.jpg

Vâng, người ta ngày nay sử dụng Dư địa chí để nghiên cứu về địa lý lịch sử, nhưng vấn đề đặt ra là tại sao Nguyễn Trãi lại viết công trình đó? Liệu có phải ông đã viết nó chỉ đơn giản vì nhu cầu học thuật muốn ghi chép lại thông tin, và liệu có phải ông làm điều đó cho ‘nhân dân Việt Nam’? Hay Nguyễn Trãi đã viết cuốn sách đó vì những lý do nào khác?

Một hướng để suy nghĩ về vấn đề này là xem xét Dư địa chí qua lăng kính của những ý tưởng trong cuốn sách nổi tiếng của James Scott- Dưới góc nhìn chính quyền (Seeing like a State).

seeing-2.jpg

Trong cuốn sách này, Scott lý giải rằng những nhà nước sơ khai không có nhiều thông tin về vùng đất mà họ đang cố gắng kiểm soát.

Như ông đã chỉ ra trong một bài báo về cuốn sách, ‘Nó rất ấn tượng và cũng rất quan trọng khi biết được rằng thực chất các chính quyền tiền hiện đại biết được rất ít về xã hội mà nó đang nắm giữ. Các cơ quan chính quyền chỉ có được những thông tin ít ỏi nhất về dân số dưới quyền cai trị của họ, những phong trào của nó, đặc tính của nó, của cải, sản xuất mùa màng, vân vân’.

Và sự thiếu vắng về thông tin này có thể gây nên nhiều vấn đề. Nó có thể khiến các chính quyền tiền hiện đại bóc lột người dân quá mức, dẫn đến sự nổi loạn, hay một chính quyền có thể sai lầm trong việc khai thác các nguồn tài nguyên do sự thiếu hụt thông tin về trữ lượng tài nguyên thực sự tồn tại trong khu vực kiểm soát của mình.

Tuy nhiên, theo thời gian, các chính quyền tiền hiện đại biết được cách để ‘nhìn ra’(see) những gì có trong vùng đất/vương quốc của họ. Và họ làm điều này bằng việc ghi chép lại thông tin về các nguồn tài nguyên và địa lý của vùng đất.

tho-san-2.jpg

Trong khi tôi chắc chắn rằng đã phải có những nỗ lực nào đó của chính quyền ở Việt Nam trước thế kỷ XV để ‘nhìn ra’(see) những tài nguyên của vương quốc, [nhưng tiếc rằng] không có một văn bản nào còn sót lại từ thời đó để có thể xác nhận điều này.

Ngày nay, văn bản sớm nhất ghi lại thông tin về những tài nguyên trong khu vực mà chúng ta có được là một công trình được biên soạn trong suốt giai đoạn bị nhà Minh kiểm soát- cuốn An Nam chí nguyên (xem ở đâyđây).

Giống như Dư địa chi, cuốn sách này cũng bao hàm những thông tin về ‘địa lý lịch sử’, và trong đó có cả những biên chép về các thổ sản( 土產).

citadel.jpg

Tại sao các quan chức triều Minh lại muốn ghi lại thông tin về những sản vật của An Nam? Nó có phải đơn thuần chỉ là một nhu cầu học thuật để tìm hiểu lịch sử tự nhiên của một vùng đất?

Tất nhiên là không phải. Nó được ra đời để phục vụ họ cho việc khai khác những nguồn tài nguyên.

Những thông tin trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi cũng phục vụ những mục đích tương tự. Cả An Nam chí nguyên Dư địa chí đều là những ví dụ về những nỗ lực ban đầu của các chính quyền phong kiến (Minh và Lê) nhằm ‘có cái nhìn bao quát về khu vực’ [‘see like a state’- dịch phóng].

Hay nói khác đi, cả hai văn bản ghi chép những thông tin [về lãnh thổ] do đó các chính quyền phong kiến có thể ‘nhìn ra’ được những gì đang ‘[nằm] ở ngoài kia’ (‘out there’) trong vùng đất của họ; vì vậy họ có thể khai thác một cách hiệu quả những tài nguyên để thu lợi.

Nguồn: Seeing like a state in fifteenth century Vienam by Liam C. Kelley. 11/07/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch cùng ngày.

Liam C. Kelley-Công Binh như là vi lịch sử

Hôm qua, tôi rất vui khi được xem bộ phim Công binh: La longue nuit Indochinoise (Công binh: Đêm dài Đông Dương).  Được dựng bởi đạo diễn [Việt kiều] Pháp- Lê Lâm, đây là một bộ phim tài liệu về 20, 000 công nhân Việt Nam bị gửi sang Pháp để làm việc trong những nhà máy vũ khí trong suốt Thế Chiến II.

Bộ phim được dựa trên những cuộc phỏng vấn với 20 công nhân chính thức trong nhóm này, mười ở Pháp và mười ở Việt Nam. Thông qua những câu chuyện của họ, người xem được phơi bày ra trước mắt những sự phức tạp của một giai đoạn đầy hỗn loạn trong lịch sử.

poster1

Một vài công nhân bị ép buộc đến Pháp, thông qua hệ thống chỉ tiêu, trong khi số khác đi một cách tự nguyện. Không lâu sau khi họ đến Pháp, nơi này đã bị xâm chiếm bởi quân đội của Đức Quốc Xã (Nazi Germany) và tình trạng của họ ngày càng xấu đi. Cuối cùng, họ không còn cách nào khác là phải tiên phong đi trồng lúa ở miền Nam nước Pháp.

Khi chiến tranh kết thúc, những công nhân này không ngay lập tức quay trở lại Việt Nam. Thay vào đó, họ tiếp tục làm việc ở Pháp và  biết được về những nỗ lực của Việt Minh nhằm giành lại độc lập từ tay Pháp. Rất nhiều người đã vui mừng về điều này và cực kỳ xúc động khi Hồ Chí Minh đến Pháp cho những cuộc thương lượng năm 1946.

Tuy nhiên,  họ sớm bị kéo vào tình trạng phức tạp của giai đoạn [lịch sử] đó. Họ đã chứng kiến những xung đột khốc liệt giữa những người Việt Nam thuộc hai phe Trốt-kít và Stalin ở Pháp, và một vài công nhân nhận ra rằng họ sẽ bị bắt khi họ trở lại vùng đang bị Việt Minh kiểm soát, vì họ bị coi là đã bị biến chất, vẩn đục khi ‘hợp tác’ với người Pháp.

puppet.jpg

Tôi xem bộ phim này tại trung tâm L’Espace ở Hà Nội. Nó kéo theo một cuộc thảo luận rất hăng hái bởi đạo diễn Lê Lâm và nhà sử học Dương Trung Quốc, kéo theo cả những câu hỏi từ phía khán giả mà trong đó có những câu hỏi cực kỳ xúc động.

Trong rất nhiều chủ đề được đặt ra ở cuộc thảo luận đó, tôi đặc biệt thích thú với chủ đề ‘lịch sử’. Lê Lâm không hề triển khai bộ phim tài liệu như một dạng ‘lịch sử’. Thay vào đó, ông chỉ ra rằng nó đúng hơn là một sự trình hiện nghệ thuật nhằm cố gắng thể hiện sự thương cảm của ông đối với những con người trong bộ phim.

Dương Trung Quốc cũng không hoàn toàn nhìn bộ phim như là lịch sử. Ông dường như nhìn nhận giá trị của những gì mà Lê Lâm đã thể hiện trong bộ phim nằm ở sự tập trung vào những cá nhân, điều mà việc viết sử ở Việt Nam gần như không đả động đến.

soldiers.jpg

Với tư cách một nhà sử học, thật là thú vị khi nghe hai người đàn ông này cố gắng tìm ra cách để gọi tên một điều gì đó có liên hệ với quá khứ nhưng họ lại không gọi là  ‘lịch sử’.

Thực ra, Công Binh: Đêm dài Đông Dương là một ví dụ hoàn hảo cho một dạng lịch sử gọi là vi lịch sử (microhistory). Vi lịch sử nhằm chỉ ra sự phức tạp của quá khứ thông qua việc xem xét một điều gì đó nhỏ bé, như một sự kiện hay một cộng đồng người, và hé mở những điều không phải lúc nào cũng phù hợp giữa sự thực lịch sử của sự kiện, cộng đồng đó, với những gì mà các nhà sử học đã khái quát về chúng.

Trong trường hợp của  Công Binh: Đêm dài Đông Dương, Lê  Lâm chỉ ra rằng một vài công nhân bị ép buộc phải đến Pháp (‘thực dân là xấu’), trong khi những người khác tự nguyện đi; và một cơ số người đã ở lại Pháp và lấy vợ Pháp, trong khi số khác thì trở lại Việt Nam (‘thực dân thì phức tạp’).

Ông cũng cho thấy rằng nhiều công nhân đã ủng hộ Việt Minh (‘cách mạng là tốt’), nhưng nhiều người trong số họ bị đối xử tệ hại bởi Việt Minh khi họ trở lại [Việt Nam] cho dù họ đã ủng hộ cách mạng (‘cách mạng thì phức tạp’).

image.jpg

Nói một cách khác, vi lịch sử cho chúng ra thấy những ‘vùng xám’[khó rạch ròi đúng/sai, tốt/xấu] trong quá khứ, trong khi có những dạng lịch sử khác, ví dụ như lịch sử được chính trị hoá chẳng hạn (politicized history), lại trình hiện quá khứ chỉ với hai màu ‘trắng và đen’[hoặc hoàn toàn tốt/đúng, hoặc hoàn toàn xấu/sai].

Công Binh: Đêm dài Đông Dương là một bộ phim tài liệu đầy xúc động và là một ví dụ tuyệt vời của vi lịch sử.

Nguồn: Công Binh as Microhistory  by Liam C. Kelley. 17/6/2016. Nguyễn Hồng Phúc lược dịch ngày 10/07/2016.

 

Liam Kelley-“Huyền thoại”- một cụm từ nhỏ với ý nghĩa lịch sử to lớn

Tây Bụi– một blogger và chuyên  gia âm nhạc Việt Nam- vừa hướng sự chú ý của tôi trở lại một vấn đề tôi đã suy nghĩ suốt một thời gian dài cho đến tận bây giờ: Từ “huyền thoại” ( và thuật ngữ liên quan, “huyền sử”- để biết nhiều thêm về “huyền sử”, xem video nàynày) bắt nguồn từ đâu?

Thuật ngữ này có nghĩa là gì? Vâng, ‘huyền’ nghĩa là ‘tối, đen’(dark) hay ‘mơ hồ’(obscure), và ‘thoại’ có thể hiểu là ‘nói’ hoặc ‘câu chuyện’, nhưng khi kết hợp với nhau, chúng tạo nên một từ ghép với nghĩa…Vâng, đó chính là vấn đề. Tôi không thể chỉ rõ ràng ra được nó nghĩa là gì.

Vào trang từ điển trực tuyến nổi tiếng của Việt Nam Vdict.com và tra từ ‘huyền thoại’ dưới dạng Việt – Anh. Bạn sẽ thấy nó có kết quả là ‘legend, myth’.

Sau đó tìm kiếm ‘myth’ và ‘legend’ dưới dạng Anh- Việt và bạn sẽ nhận được tương ứng là ‘thần thoại ’ và ‘truyện cổ tích’.

Thật lạ! Nếu ‘huyền thoại’ nghĩa là ‘myth’ hay ‘legend’[trong tiếng Anh], vậy tại sao các từ này không cho nghĩa là ‘huyền thoại’ trong tiếng Việt?

vdict

Hôm nay, tôi đã dành thời gian tra cứu tất cả các loại từ điển ( từ điển Việt- Việt, từ điển Việt- Anh, từ điển Pháp- Việt, từ điển Anh- Việt) từ rất nhiều khu vực/giai đoạn của Việt Nam (Việt Nam thuộc địa, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, giai đoạn chia cắt và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam <từ đây, CHXHCNVN>), và tôi không thể tìm thấy từ ‘huyền thoại’ trong bất kỳ từ điển nào trước những năm 1990.

ntc

Tôi có một ấn bản Từ điển Tiếng Việt  năm 1996 của Trung tâm nghiên cứu Từ điển Hà Nội (Center for Dictionary Studies in Hanoi), và Tây Bụi cũng đã tra cứu ấn bản năm 1994 của cuốn từ điển này. Chúng đều có mục từ này và giải thích là ‘câu chuyện huyền hoặc , kỳ lạ, hoàn toàn do tưởng tượng; thần thoại’.

Trong khi đó, mục từ này cũng xuất hiện trong một cuốn từ điển của Nguyễn Đình Hoà xuất bản ở Mỹ năm 1995 (NTC’s Vietnamese- English Dictionary). Cuốn từ điển đó bao gồm một ‘phụ trương’(supplement), nơi Nguyễn Đình Hoà thêm vào những từ mới mà ông tình cờ bắt gặp và không bao gồm trong phần chính của từ điển. ‘Huyền thoại’ xuất hiện trong phần phụ trương này, và nó đơn giản được định nghĩa là ‘myth’.

Cuối cùng, để đưa câu chuyện đi xa hơn một chút, Tây Bụi đã tìm thấy một định nghĩa của ‘huyền thoại’ trong Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 giải thích thuật ngữ này là ‘chuyện huyền hoặc, thần bí, do trí tưởng tượng hư cấu. Huyền thoại thường kể về các vị thần linh, các nhân vật siêu phàm, những hành động kỳ vĩ, gắn ít nhiều với lịch sử, phần lớn không có cơ sở thực tế’.

oed-myth.jpg

Thật là một định nghĩa mơ hồ! Huyền thoại ‘gắn ít nhiều với lịch sử’, [nhưng] ‘phần lớn không có cơ sở thực tế’. Rốt cuộc nó có nghĩa quái gì vậy?

Đây là một định nghĩa rất mơ hồ, và sự mơ hồ của nó hiện ra phần nào khi ta nhìn vào định nghĩa về ‘myth’ và ‘legend’ ở một nguồn như Từ điển Oxford (Oxford English Dictionary).

Đây là định nghĩa của Oxford về ‘myth’:

“Một câu chuyện truyền thống, đặc biệt có liên quan đến những thế lực hoặc tồn tại siêu nhiên, bao gồm và cung cấp một sự giải thích, trình bày nguyên nhân hay sự đánh giá về một điều gì đó như lịch sử sơ khai của một xã hội, một nghi lễ hay niềm tin tôn giáo, hay một hiện tượng tự nhiên”. (A traditional story, typically involving supernatural beings or forces, which embodies and provides an explanation, aetiology, or justification for something such as the early history of a society, a religious belief or ritual, or a natural phenomenon)

Vậy là ở đây, sự liên quan đến lịch sử và hiện thực [của ‘myth’] rất rõ ràng. Nó là một câu chuyện tưởng tưởng, nhưng nó được dùng để giải thích một vài hiện tượng rộng lớn hơn nội dung của bản thân câu chuyện đó.

Một sử gia vì thế có thể khảo sát những thần thoại (myths) và cố gắng hiểu được hiện tượng rộng lớn hơn đó là gì (và có vô số các học giả đã làm điều này đối với thần thoại trên khắp thế giới).

oed-legend.jpg

Đối với ‘legend’, nghĩa chính trong tiếng Anh là ‘câu chuyện về cuộc đời của một vị Thánh”; nhưng có một nghĩa khác gần gũi hơn với những giải thích về thuật ngữ ‘huyền thoại’, là:

“Một câu chuyện phi lịch sử hoặc không có thật, được truyền từ đời này sang đời khác bởi truyền thống từ thuở ban sơ và thường được coi là thuộc về lịch sử”. (An unauthentic or non-historical story, esp. one handed down by tradition from early times and popularly regarded as historical).

Lại thấy ở đây mối quan hệ rõ ràng với lịch sử. Một truyền thuyết (legend) thực tế không phải là lịch sử, nhưng nó ‘thường được coi là có tính [gắn với] lịch sử’.

Do đó, một sử gia có thể khảo sát những truyền thuyết và có thể cho thấy những gì không thật về nó, và cũng có thể dùng những thông tin đó để nói về việc tại sao người ta lại tạo ra những truyền thuyết đó và tại sao mọi người lại tin vào chúng dù cho chúng không thật.

Hay nói một cách khác, những định nghĩa này cho thấy rằng thần thoại (myths) và truyền thuyết (legends) có thể được phân tích và được hiểu bởi các sử gia. Chúng không phải là vấn đề ‘mơ hồ’(obscure) nào đó không thể kiểm chứng và đi đến một lý giải thuyết phục.

Điều này, tuy vậy, lại không giống với trường hợp của ‘huyền thoại’. Làm thế nào để một nhà sử học có thể hiểu được một thứ ‘gắn ít nhiều với lịch sử’ nhưng lại ‘không có cơ sở thực tế’?

Lý do tôi chọn định nghĩa này là vì tôi đã đọc và nghe rất nhiều học giả Việt Nam sử dụng khái niệm ‘huyền thoại’ hay ‘huyền sử’ để thực chất nhằm không phải đưa ra bất cứ quan điểm nào về quá khứ.- “Ồ, nó là huyền thoại/huyền sử ấy mà. Chẳng biết được đâu”.

Vâng, một thứ chúng ta có thể biết chắc chắn là khái niệm ‘huyền thoại’ lần đầu tiên xuất hiện trên văn bản vào những năm 1990. Nó rõ ràng đã phải được sử dụng trước mốc thời điểm đó, nhưng ở đâu? Và khi nào?

Một tìm kiếm nhanh về thuật ngữ ‘huyền thoại’ trên thư viện của tôi cho ra chỉ một tiêu đề từ những năm 1960: Nguyễn Văn Chung’s French Colonism in Vietnam: Reality and Myths (Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam thực chất và huyền thoại), xuất bản tại Saigon năm 1963.

1960s.jpg

Sau đó những năm 1970, có một số các tác phẩm văn học ở Miền Nam Việt Nam.

1970s.jpg

Trong những năm 1980, có những tác phẩm được xuất bản ở Mỹ, như Kim Vinh Phạm’s The Liberation of Vietnam: Myth, Relity and Hope (Giải phóng Việt Nam: huyền thoại, thực tại và hi vọng).

1980s

Nói một cách khác, rõ ràng rằng cho đến tận năm 1990, ‘huyền thoại’ vẫn là một thuật ngữ được sử dụng bởi người miền Nam Việt Nam trước và sau giai đoạn chia cắt.

Tuy nhiên, trong những năm 1990, bắt đầu có sự thay đổi, khi mà những công trình đầu tiên được xuất bản dưới chế độ CHXHCNVN hoà đã sử dụng cụm từ ‘huyền thoại’.

1990s.jpg

Đến những năm 2000, đã có nhiều hơn những tác phẩm xuất bản dưới chế độ CHXHCNVN dùng thuật ngữ ‘huyền thoại’ này (thư viện của tôi liệt kê khoảng 143 tiêu đề).

2000s.jpg

Vậy điều gì đã diễn ra ở đây?

Tây Bụi bàn về một bài hát ở Miền Nam Việt Nam những năm đầu 1970 có tên gọi Huyền thoại người con gái.

Đây rõ ràng là bài hát đầu tiên trước 1975 ở Miền Nam Việt Nam được chính phủ CHXHCNVN ưng thuận để cho lưu hành.

Sự ưng thuận đó là vào năm 1991.

Lẽ ra tôi cần phải cung cấp thêm nhiều bằng chứng rõ ràng hơn, [nhưng] quan niệm của Kim Định về ‘huyền sử’ cũng dường như bắt đầu ‘tạo được một sự trở lại’ xung quanh thời điểm đó.

Vậy là có điều gì đấy về sự ‘tái xuất hiện’(re- emergence) của Miền Nam vào thời điểm đó, nhưng tôi nghĩ nó cũng chắc chắn liên quan đến điều mà một vài học giả đã đề cập đến như là ‘chủ nghĩa xã hội muộn’(late Socialism) hay giai đoạn xã hội chủ nghĩa muộn’ (the late Socialist moment).

Nguyên nhân của ý tưởng này có nguồn gốc từ sự sụp đổ của Liên Xô, và hầu hết rất nhiều quốc gia duy trì Xã hội chủ nghĩa bắt đầu chuyển nền kinh tế bao cấp của họ (command economies) sang nền kinh tế thị trường (market economies), những nền tảng ý thức hệ mà chế độ dựa trên nó không còn ‘có cơ sở thực tế’ nữa.

Vì điều đó xảy ra, [nên] có một sự ‘tìm về truyền thống’ (‘turn to tradition’) và theo sau đó là sự ‘tái chú trọng’ (re- enchantment) vào thực tế. Đền đài và nhà thờ được cải tạo, lĩnh vực tâm linh được tôn thờ, vv.

Điều này, theo các học giả, được thúc đẩy bởi một nhận thức về sự bất ổn. Sau hàng thập kỷ sống trong một thế giới dựa trên một sự chia cắt rạch ròi về ý thức hệ, làm thế  nào để những người trong các đất nước Cộng sản giờ đây có thể mở cửa với một thế giới đã một thời gian dài bị họ chối bỏ? Và sự mở cửa này sẽ thay đổi xã hội của họ như thế nào? Nó có phá huỷ mọi thứ không? Người ta nên làm những gì [với nó]?

reinventing.jpg

Trong bối cảnh không ổn định này, quá khứ dường như là một nguồn lực tốt để dựa vào nhằm đạt được một sự vững mạnh và ổn định. Sau tất cả, nếu một quốc gia đã từng tồn tại từ xa xưa, chắc chắn quốc gia đó có thể tiếp tục tồn tại qua khỏi những biến động hiện thời.

Nhưng đợi một chút, đã có một quốc gia thực tế ở thời xa xưa ư? Tất cả không phải chỉ là sự kết nối của những huyền thoại (myths) hay sao? Làm thế nào mà những huyền thoại đó có thể được sử dụng để củng cố xã hội trong thời đại mới này?

Việc này có liên quan đến những thuật ngữ như ‘huyền thoại’ và ‘huyền sử’. Trong khi có những thuật ngữ [khác] đã được sử dụng hàng thập kỷ ở Việt Nam để đề cập đến những khái niệm ‘myth’(thần thoại) và ‘legend’(cổ tích, truyền thuyết) của phương Tây, [nhưng] những thuật ngữ chắc chắn chưa bao giờ thực sự phổ biến ở Miền Nam (và do đó, chưa bao giờ xuất hiện trong bất cứ cuốn từ điển nào ở đó) và chưa từng được sử dụng trước 1975 này, giờ đây cung cấp cơ hội [cho người ta] để tạo nên một khái niệm mới.

Thực ra, khái niệm ‘huyền sử’(obscure history) của Kim Định thực sự đã cho thấy một định nghĩa tiêu biểu cho thể loại này. Nó thực mà không thực. Nó không ổn định rõ ràng. Ai đó có thể sử dụng nó tuỳ ý muốn, bởi vì ‘chẳng cái gì có thể biết chắc được.’

Tôi vì thế thấy khái niệm ‘huyền thoại’ mang đầy ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó là một thuật ngữ xuất hiện ở Miền Nam Việt Nam những năm 1960, được mang sang nước ngoài năm 1975, ‘trở lại’ vào những năm đầu 1990, và sau đó được lưu truyền nhằm giúp đỡ người Việt Nam chống chọi với những bất ổn của một thời kỳ đầy biến động.

Cũng tương tự, thuật ngữ này còn giúp các học giả Việt Nam né tránh được sự nhìn nhận một cách có phê phán vào nguồn gốc xã hội của họ, một chủ đề đang được sử dụng để củng cố quốc gia trong hoàn cảnh thiếu vắng ý thức hệ. Sau tất cả, nó cũng chỉ là ‘huyền thoại’ và ‘huyền sử’. Không biết được. [nên không cần kiểm chứng]

Nói cách khác đi, không giống như trong tiếng Anh, nơi mà ‘myths’ và ‘legends’ có thể được khảo sát và phân tích rạch ròi bằng nhiều con đường bởi các sử gia, [thì]‘huyền thoại’ và  ‘huyền sử’ với tính chất như một câu chyện ‘gắn với lịch sử, [nhưng] phần lớn không có cơ sở thực tế’ lại không thể [khảo sát và phân tích được].

Vì chúng quá mơ hồ.

Nguồn: “Huyền sử”- a little word with a big historical significance by Liam Kelley 14/01/2016. Nguyễn Hồng Phúc dịch ngày 07/07/2016.

 

‘Kẻ thù không nhìn thấy’ hay chuyện ‘Mị Châu- Trọng Thuỷ’ phiên bản Tàu

Dưới đây là bộ truyện tranh Kẻ thù không nhìn thấy– một ‘phiên bản Trung Quốc’ của chuyện Mị Châu – Trọng Thuỷ ở Việt Nam. Từ góc nhìn bên ngoài, bộ truyện tranh này đem đến cho chúng ta nhiều suy nghĩ mới đối với một câu chuyện đã trở nên quá quen thuộc.

Bản dịch dưới đây được thực hiện bởi bạn Cherry Dương. Cuốn truyện tranh do anh Trần Trọng Dương gửi tặng.

Untitled

Kho tàng tranh truyện cổ

KẺ THÙ KHÔNG NHÌN THẤY

Phỏng theo truyện cổ dân gian

A

 

 

Hoàng Tuân Thụy: cải biên

Lí Thiên Tâm: hội họa

Nhà xuất bản Liên Hoàn Họa

B

 Giới thiệu nội dung

          Trước đây không biết bao nhiêu năm, có một đất nước ở vùng ven biển, dựa vào uy lực của vũ khí cung thần, trở thành một cường quốc trong tất cả các nước cùng thời. Nhưng không được bao lâu, vì thiếu cảnh giác, bí mật về cung thần bị một nước khác lập mưu lừa công chúa nói ra, rồi đánh cắp. Cường quốc nọ vì thế mà diệt vong.

Cuốn sách từng được Nhà Xuất bản Mỹ thuật Nhân dân xuất bản năm 1958. Nay đã được hiệu đính, liệt vào series tái bản “Kho tàng tranh truyện cổ” của Nhà xuất bản Liên Hoàn Họa, nhằm thỏa mãn nhu cầu của phần đông độc giả cũng như những người yêu mến Liên Hoàn Họa.

1

1  .Trong rừng trúc còn có thể trông thấy mờ mờ ảo ảo di chỉ của một cung điện. Có người nói rằng nơi đây từng là kinh đô của một nước lớn nào đó. Nước lớn ấy đã tiêu vong như thế nào? Dân gian truyền lại một câu chuyện như sau.

2

2.Không biết từ bao nhiêu năm về trước, phương Đông có rất nhiều nước thôn tính lẫn nhau, thường xảy ra chiến tranh. Có ông vua một nước ven biển nọ tên là Thổ Khắc, vốn sẵn sôi sục dã tâm, tự mình thống lĩnh quân đội, huấn luyện hải chiến.

 

3

3. Hôm ấy, vua Thổ Khắc và các binh sĩ cưỡi thuyền lớn, hướng biển Nam Hải [Biển Đông] mà tiến gấp, trên đường gặp phải một cơn bão biển rất lớn.

 

4

4. Chiếc thuyền lớn nghiêng ngả trong cơn sóng gió, may sao trôi dạt tới một đảo hoang, tất cả người ngựa mới được sống sót.

 

 

5.png

5. Sóng gió tạm ngưng, đúng lúc vua Thổ Khắc chuẩn bị bước lên thuyền về nước thì phát hiện bên bờ biển có một con rùa vàng bị thương rất nặng.

 

6.png

6. Vua Thổ Khắc thương tình bèn đem con vật ấy về cung, nuôi trong một cái ao lớn, lại gọi ngự y tới khám bệnh cho.

 

7.png

7.Vài ngày sau, vết thương của rùa vàng hoàn toàn bình phục. Một hôm, con vật ấy đột nhiên cất tiếng người: “Thưa bệ hạ, đội ơn ngài, giờ tôi phải quay về, cứ mỗi đầu tháng sẽ lại tới thăm bệ hạ”, rồi dâng lên đức vua một cái móng, lại nói: “ Bệ hạ hãy lấy nó làm cung tên. Người sẽ là quốc vương vô địch thiên hạ.”

8.png

8. Rùa vàng trở về biển khơi rồi. Vua Thổ Khắc theo lời rùa vàng, lập tức vời thợ làm cung có tiếng vào chế tạo cung thần.

 

9.png

9. Cung tên đã làm xong. Vua Thổ Khắc muốn thử xem lời nói của rùa vàng có linh nghiệm hay không, bèn cưỡi ngựa vào sâu trong núi. Vù! Một mũi tên vừa bắn ra, chỉ thấy tựa hồ trong một cái chớp mắt đã xuyên thẳng qua thân mình con mồi.

 

10.png10.Không ngờ, mũi tên lại tiếp tục xuyên qua nhiều con dã thú khác, một con, rồi cả trăm con. Kì lạ hơn, mũi tên ấy tự động quay trở về trên tay nhà vua.

11.png

11. Vua Thổ Khắc rất vui mừng, lập tức đem quân sang xâm chiếm nước khác, đánh đâu thắng đó, không ai có thể vượt qua nổi

 

12.png

12. Lúc đó, tất cả các nước đều rất sợ ông ta, có nơi cắt đất đầu hàng, có nơi phái sứ giả đem vàng bạc châu báu tới cống nạp. Vua Thổ Khắc oai phong như thái thượng hoàng.

 

13.png13. Lại nói, trong các nước quy phục đầu hàng, có một ông vua tên Trương Trị. Ông ta vốn mạnh hơn vua Thổ Khắc, nay lại phải ngậm ngùi bại trận, trong lòng hậm hực không vui.

 

14.png

14. Vị quân sư trẻ của vua Trương Trị liền hiến kế: “ Bọn họ đột nhiên mạnh lên, nhất định bên trong có nguyên nhân. Quân sĩ của chúng ta hao tổn một cách kì quái, nhất định bên trong có duyên cớ. Theo thần thấy, muốn chiến thắng quân địch, nhất định phải thâm nhập vào lòng địch”.

 

15.png

15. Quả nhiên là quân sư, một lời nói đã khiến vua Trương Trị thấy thuyết phục. Chỉ là, dùng cách nào để thâm nhập vào lòng địch đây? Quân sư lại nói: “Cho thái tử sang cầu hôn công chúa con vua Thổ Khắc, thần sẽ cải trang làm người tùy tùng đi theo, xem xét thời cơ tốt để hành sự”.

 

16.png

16. Vua Trương Trị liền đáp: “Tuyệt! Tuyệt! Tuyệt!” Nói rồi, quân sư lập tức thay y phục, hộ tống thái tử cùng mười xe lễ vật xuất phát. Trước khi đi, vua Trương Trị dặn dò thái tử: “Con phải nghe lời quân sư, ông ấy bảo gì cứ làm theo như vậy.”

 

17.png

17. Nửa tháng sau, thái tử và quân sư tới cung vua Thổ Khắc. Thái tử nghe lời quân sư, vừa diện kiến liền vái chào, nói những lời tâng bốc, xu nịnh.

 

18.png

18. Vua Thổ Khắc thấy thái tử tướng mạo phi thường, lại biết lễ phép, trong lòng dao động, liền gọi công chúa tới tiếp đãi.

 

19.png

19. Chỉ vài ngày sau, công chúa và thái tử đã quấn quýt như đôi sam. Vị quân sư luôn kè kè bên cạnh đôi trẻ, nhưng không sao dò la được bí mật, trong lòng hơi sốt ruột.

 

20.png

20. Một ngày, công chúa đưa thái tử tới thăm một cái giếng gần đó, trên mặt giếng hiện ra một thứ ánh sáng lấp lánh, thái tử kinh ngạc hỏi: “ Hôm nay mới là mồng một, làm sao ánh trăng phản chiếu trên mặt nước lại tròn đầy thế này?”

 

21.png

21. Công chúa thành thật trả lời chàng: “ Không phải là ánh trăng đâu! Đó là Kim Quy, người bạn của phụ vương thiếp, hôm nay là mồng một nên tới thăm người. Phụ vương thiếp có được uy phong ngày hôm nay, đều nhờ ông ấy cả.”

 

22.png

22. Vị quân sư vừa nghe, cảm thấy nhất định có nguyên nhân trong chuyện đó, bèn dùng tiếng nước mình nói với thái tử, bảo chàng tiếp tục truy cứu. Công chúa thật lòng yêu thái tử, bèn đem tất cả, từ chuyện rùa vàng, móng vàng, cho tới chuyện dùng móng vàng làm tên thần, nói ra hết với chàng.

 

23.png

23.Vị quân sư hết sức vui mừng, lại dùng tiếng bản xứ bảo thái tử hỏi nơi cất giấu cung thần. Công chúa bối rối trả lời: “ Không…không được. Đây là bí mật. Phụ vương thiếp không cho người ngoại quốc được biết.”

 

24.png

24. Vị quân sư kéo kéo vạt áo thái tử, khẽ nhắc: “Mau nói với công chúa: chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành vợ chồng rồi, giữa vợ chồng còn có bí mật nào nữa chứ; đã là vợ chồng, sao có thể xem là người nước ngoài”.

 

25.png

25. Thái tử theo lời quân sư nói với công chúa. Công chúa động lòng, bèn đưa họ tới mật thất. Quân sư nhìn thấy cung thần, trong lòng thầm sung sướng, vậy là từ đây con đường làm quan rộng mở rồi.

 

26.png

26. Vị quân sư lại nghĩ: “Đây liệu có phải là đồ thật không?”, liền bảo thái tử cầm xuống dùng thử một chút. Thái tử đỡ cung thần xuống, kéo căng dây cung, vừa buông tay, chỉ nghe dây cung vang lên một tiếng, tựa hồ như có một trận cuồng phong thổi qua rừng trúc vậy.

 

27.png

27. Vị quân sư tính giở thủ đoạn lấy cung thần, bèn cho người làm một cây cung giống y hệt. Vào một đêm khuya mưa gió, y rón rén tới mật thất, đem cây cung thần tráo đổi.

 

28.png

28. Y còn cho người đi thu nhặt thật nhiều lông vũ sặc sỡ, đem tẩm thuốc, làm thành chiếc áo lông vũ phát sáng trong đêm.

 

29.png

29. Lại nói công chúa và thái tử bên nhau càng lâu, tình cảm càng sâu nặng. Mấy ngày sau không có quân sư theo sát, họ càng có thể thoải mái tâm tình, giờ đã như keo như sơn, khó có thể chia lìa, phân cách.

 

30.png

30.Khi hai người đang trò chuyện vui vẻ, vị quân sư tới gọi thái tử về nước. Thái tử nghe xong như bị giội gáo nước lạnh, nửa người chết trân. Vị quân sư lại đưa cho thái tử chiếc áo lông vũ, bảo nói với công chúa: “Hễ nhớ ta, hãy mặc chiếc áo lông vũ này; Nếu không muốn phải chia xa, hãy khoác chiếc áo lông vũ này.”

 

31.png

31. Thái tử lực bất tòng tâm, chỉ có thể cùng công chúa nói lời li biệt: “ Công chúa, ta không còn cách nào khác, buộc phải chia tay nàng để trở về. Nàng hãy đợi ta nhé!” Công chúa trả lời trong màn nước mắt: “Thiếp nhất định sẽ đợi chàng, sẽ ngày ngày khoác tấm áo lông vũ này!”.

 

32.png

32. Thái tử tạm biệt công chúa, cùng quân sư trở về nước. Vua Trương Trị nhận được cung thần, vui mừng khôn xiết, cười lớn mà rằng: “ Haha! Từ nay thiên hạ này sẽ là của ta rồi!”

 

33.png

33. Vị quân sư lập được công lớn, nhờ đó thăng quan, phát tài. Y lại xin quốc vương cho lập tức xuất quân tiến đánh, cải trang làm thái tử. Thái tử cũng muốn đi, liền bị vua mắng: “Ngươi thực sự muốn kết duyên với con bé đó sao? Nói cho ngươi hay, đó chỉ là mưu kế thôi!”. Thái tử đành phải đau đớn mà khóc.

 

34.png

34. Quân sư mang một đội kỵ binh, đánh đuổi tới biên giới nước vua Thổ Khắc. Quân lính trong thành cố thủ, đều bị quân sư dùng cung thần bắn chết.

 

35.png

35. Một người lính may mắn bảo toàn được tính mạng trốn thoát khỏi thành, vội vã phi ngựa cấp báo cho vua Thổ Khắc. Vua Thổ Khắc không tin, còn quở mắng người lính đó báo tin nhầm.

 

36.png

36. Vị quân sư dựa vào uy lực của cung thần, trên đường không chút cản trở, thỏa sức chém giết, trước mắt chỉ còn cách kinh thành một ngày đường nữa.

 

37.png

37. Người thám mã lại cưỡi ngựa về cấp báo, vua Thổ Khắc bắt đầu do dự: “Lẽ nào lại có chuyện này sao?”. Lúc ấy, công chúa đang thương nhớ thái tử, trên mình khoác áo lông vũ, nghe thấy lời cấp báo vội vã bước tới.

 

38.png

38. Công chúa trỏ vào người thám mã kia, mắng rằng; “ Chàng là phu quân của ta, sao có thể tiến đánh chúng ta được. Nhất định là các ngươi không tốt, lại đem tội lỗi đổ lên đầu chàng.” Nói rồi cho người lôi ra chém.

 

39.png

39. Công chúa nóng lòng được trông thấy thái tử, bèn cùng vua cha lên thành cao trông ngóng. Hai cha con đứng trên thành, thấy ngoài thành khói lửa đầy trời, lại tưởng đó là nhân dân đang đốt lửa chào đón thái tử.

 

40.png

40. Vị quân sư đã tiến đánh tới chân thành, các binh sĩ lại càng chống trả quyết liệt. Vua Thổ Khắc thấy y tả xung hữu đột, chém giết điên cuồng, bèn đứng trên thành hét lớn: “ Phò mã của ta, ngươi điên rồi sao? Còn không dừng tay, ngươi sẽ biết thế nào là cung thần của ta!”

 

41.png

41. “Chàng phò mã” không thèm quan tâm. Ngoài thành, xác các binh sĩ nằm la liệt, chất đống. Lúc này, vua Thổ Khắc mới tỉnh ngộ, lập tức cho người mang cung thần tới. Vua vừa định bắn, công chúa liền chạy tới níu tay cha: “Phụ vương, không được! Đó là phu quân của con mà!”

 

42.png

42. Lúc đó, vị quân sư đã diệt hơn một ngàn binh sĩ, chuẩn bị tiến đánh vào cổng thành. Vua Thổ Khắc luống cuống, vội nói: “Ngươi muốn nhìn phụ vương ngươi phải chết hay sao? Ngươi không thấy xã tắc đang lâm nguy hay sao?”. Vua giằng tay công chúa ra, giương cung bắn một mũi tên.

 

44.png

43. Kì lạ thay, tới một kẻ địch mũi tên cũng không bắn trúng. Vua Thổ Khắc nghĩ mình dùng chưa đủ lực, liền kéo căng hơn nữa. “Phựt!”, dây cung đứt. Vua Thổ Khắc lúc này mới nhận ra, cung thần đã không còn uy lực nữa rồi.

 

44CHUUARN.png

44. Quân địch giết hết quân lính trong thành, tới bắt sống vua Thổ Khắc. Vua Thổ Khắc không muốn con gái mình kết duyên kẻ địch, bèn ôm con vào lòng, nhảy lên ngựa, thúc thật nhanh chạy trốn theo hướng ngoại thành.

 

45.png

45. Công chúa một lòng yêu thái tử, nàng không tin thái tử trở mặt thành kẻ địch, cũng không muốn rời xa chàng. Trong lúc cấp bách, nàng chợt nhớ ra điều gì đó, bèn kéo chiếc khăn choàng xuống, để lộ ra chiếc áo lông vũ cho thái tử tìm thấy nàng.

 

46.png

46. Vua Thổ Khắc chạy từ thung lũng tới núi sâu. Quân địch cũng truy đuổi từ thung lũng tới núi sâu.

 

47.png

47. Vua Thổ Khắc nghĩ quân địch không thể theo kịp, nhưng quân địch lần theo ánh sáng phát ra từ chiếc áo lông của công chúa, nhất cử nhất động đều bám theo ở phía sau.

 

48.png

48. Khi những ngôi sao xuất hiện trên bầu trời cũng là khi vua Thổ Khắc sức cùng lực kiệt chạy tới bờ biển, hướng mặt về biển khơi mà rằng: “ Kim Quy huynh đệ, người tặng ta cây cung thần, tại sao lại cướp đi thần lực của nó? Tại sao lại tàn nhẫn trêu đùa với vận mệnh của ta như vậy?”

 

49.png

49. Sóng biến bỗng chốc nổi lên cuồn cuộn, rùa vàng xuất hiện trên mặt biển, ôn tồn đáp: “Vua Thổ Khắc, không phải tôi lừa bệ hạ mà có kẻ khác đã phản bội lại người. Kẻ thù của bệ hạ đang ở ngay trước mắt người đó.”

50.png

50. Vua Thổ Khắc nói: “Đúng rồi! Kẻ địch sắp đuổi tới nơi rồi!” Rùa vàng thấy vua Thổ Khắc vẫn chìm trong ngu muội , bèn tiếp tục nói: “Kẻ địch là kẻ bệ hạ đang ôm trong ngực đấy, thưa quốc vương Thổ Khắc!”

 

51.png

51. Kẻ đang ôm trong ngực không ai khác ngoài con gái ta, con gái của ta sao có thể phản bội ta, trở thành kẻ địch của ta chứ !? Vua Thổ Khắc có chút không tin, nhưng vừa thấy con gái đang khoác áo lông vũ, trong lòng chợt hiểu ra.

 

52

52.Trước ánh mắt đầy phẫn nộ của vua cha, công chúa cúi đầu xuống như một tội đồ, lương tâm không ngừng cắn rứt. Lúc ấy, quân địch đã đuổi tới nơi, nhận ra người ngồi trên ngựa là vị quân sư, nàng chợt hiểu ra tất cả, vừa tủi nhục, vừa căm hận, bèn tuốt gươm tự vẫn. Vua Thổ Khắc sau đó phi ngựa xuống biển.

53-H.png

Liam Kelley- Những thay đổi hệ hình trong lịch sử Việt Nam

Thuật ngữ ‘thay đổi hệ hình’ (paradigm shift) thường được sử dụng bởi giới học thuật hàn lâm. Nó là một thuật ngữ được tạo ra bởi Thomas Kuhn trong cuốn sách năm 1962 của ông, Cấu trúc các cuộc Cách mạng Khoa học (The Structure of Scientific Revolutions). Mặc dù thuật ngữ này có một nghĩa đặc biệt liên quan đến các Khoa học thực nghiệm ( hard science), [nhưng] ngày nay, học giả trong các lĩnh vực khác cũng thường sử dụng nó trong một nghĩa rộng hơn để nói về sự thay đổi xảy ra khi một cách nhìn lâu dài (long-held view) về một đối tượng [nào đó] bị đạp đổ.

Sự thay đổi hệ hình diễn ra như thế nào?  Nó thường là trường hợp khi người ta bắt đầu chú ý đến những cách thức trong đó một quan niệm hay diễn giải về một đối tượng [nào đó trở nên] không rõ ràng. Sau đó là việc một ai đó tìm ra những bằng chứng và tạo nên những quan điểm mạnh mẽ ủng hộ cho một cách nhìn và diễn giải mới về đối tượng, và điều này làm mọi người bỏ hẳn cách nhìn/ diễn giải về vấn đề hay sự kiện theo cách cũ và đi theo hướng nhìn mới mẻ này.

hanois-warMới đây tôi có đề cập đến cuốn sách mới của Lien- Hang Nguyen, Hanoi’s War:An International History of the War for Peace in Vietnam (Chiến tranh Hà Nội: Một lịch sử quốc tế về chiến tranh vì hoà bình ở Việt Nam). Cuốn sách này có tiềm năng sẽ đem đến một sự thay đổi hệ hình, bởi vì nó thách thức rất nhiều quan điểm cố cựu về chiến tranh, và nó làm điều này bằng việc cung cấp rất nhiều bằng chứng không hề ủng hộ các diễn giải đang tồn tại.

Những bằng chứng ấy đến từ đâu? Trước hết, từ tác phẩm của Lien- Hang trong các cơ quan lưu trữ trên toàn thế giới. Và thứ hai, từ công trình mà những học giả khác gần đây tập trung tới chủ đề này, bởi vì những nghiên cứu này cũng cung cấp bằng chứng cho thấy hệ hình thống trị (dominant paradigm) là không chính xác.

Điều này sau đó dẫn tới một vài câu hỏi. Nếu các học giả khác đã từng cung cấp bằng chứng chống lại hệ hình hiện hành, [vậy] tại sao nó đã không thay đổi? Phải có một điều gì diễn ra mới khiến một hệ hình hoàn toàn thay đổi?

Đây là những câu hỏi khó trả lời. Một người chẳng bao giờ có thể chắc chắn chính xác khi nào một hệ hình sẽ lật đổi. Một học giả có thể biết tất tật về chuyên  môn của mình rằng có những điều gì đó mà mọi người nghĩ hay nói là không đúng, nhưng những cách nhìn đó [của họ] có thể không bao giờ thay đổi trong suốt cuộc đời vị học giả kia.

Trong những trường hợp khác, tuy nhiên, cách thức một vấn đề hay lĩnh vực nào đó được nhìn nhận có thể thay đổi triệt để [chỉ] trong một giai đoạn ngắn.

bd

Điều này đưa chúng ta đến với lịch sử Việt Nam. Có rất nhiều hệ hình diễn giải không chính xác về quá khứ của người Việt, và nhiều điều mọi người biết cũng đều không chính xác. Chúng ta có thể tạo ra hẳn một danh sách cứ liên tục tiếp diễn mãi.

Nhiều người thực sự tin rằng có một vương quốc gọi là Văn Lang vào thiên niên kỷ đầu trước Công nguyên trị vì bởi những vua Hùng.

Nhiều người không biết đến sự thay đổi hoàn toàn về thế giới quan của những người Việt Nam có học đầu thế kỷ XX, và do đó, sử dụng một cách thiếu phê phán các thuật ngữ hiện đại như ‘dân tộc’ khi họ nói về giai đoạn trước thế kỷ XX ( khi mà những trí thức Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX biết rất rõ rằng chúng là những khái niệm mới đối với họ).

Nhiều người tin rằng ý tưởng về người Việt Nam ‘luôn luôn chống ngoại xâm’ đã trở thành một phần trong ý thức ‘dân tộc Việt’ từ những buổi đầu, và không hề thấy rằng đây là một diễn ngôn hiện đại được tạo ra ở thế kỷ XX để kêu gọi mọi người làm đúng những gì mà họ đang không làm- đấu tranh.

Những quan điểm này đều là những phần của một hệ hình, một cách nhìn về quá khứ, và có một lượng lớn các bằng chứng chống lại hệ hình này cùng những thành tố của nó. Có cả những người nhận ra rằng hệ hình này không hề chính xác, nhưng cái hệ hình ấy vẫn cứ tồn tại.

Vì sao nó vẫn tồn tại?  Nó tồn tại bên ngoài Việt Nam  vì có quá ít người ở hải ngoại tạo ra tri thức về quá khứ của người Việt. Do đó thật khó khăn để tập hợp đủ bằng chứng thu hút đủ sự chú ý của mọi người.

Hệ hình bên trong Việt Nam tồn tại vì rất nhiều lý do. Mọi người không nhìn vào lịch sử Việt Nam một cách có so sánh và vì thế không thấy được con đường phát triển của lịch sử Việt Nam không hề phù hợp với sự phát triển lịch sử của các khu vực khác, và do đó họ nói về lịch sử Việt Nam mà không hề được đặt trong một bối cảnh so sánh rõ ràng.

Mọi người không bóc mẽ được rất nhiều ý tưởng và lý thuyết đã trở thành kiến thức thông thường ở phương Tây hàng thập kỷ trước đó rồi, điều mà tôi đã từng viết ở đây.

Cuối cùng, bằng một vài cách thức, sự hợp pháp chính trị (polictical legitimacy) được gắn chặt với những hệ hình đang tồn tại, và thật khó khăn [cho những người nghiên cứu] để thách thức những hệ hình ấy, vì có một khả năng là những nghiên cứu của họ có thể bị coi là đối đầu chính trị ( điều mà đương nhiên không nên xảy đến, nhưng chúng ta không thể kiểm soát người khác nghĩ gì).

Vì vậy nếu bạn là một học giả và bạn thấy rằng hệ hình đang tồn tại là không chính xác, bạn sẽ làm gì?

Một cách giải quyết là giới thiệu những ý tưởng mới để thay thế những quan điểm lỗi thời, nhưng không đả động đến những vấn đề có thể bị xem như ‘nhạy cảm chính trị’. Chẳng hạn gần đây có một công trình rất hay của một nhóm học giả nghiên cứu về lịch sử thương mại quốc tế đã làm điều này [thay đổi hệ hình]. Những học giả này sử dụng các lý thuyết và góc nhìn được dùng bởi những học giả trên toàn thế giới, và trong quá trình đối thoại học thuật quốc tế, tạo ra những góc nhìn mới về lịch sử Việt Nam.

Điều đó là tốt, nhưng đồng thời nó [công trình nghiên cứu lịch sử thương mại quốc tế này] cũng chưa chạm được đến những lĩnh vực quan trọng có vấn đề trong lịch sử Việt Nam. Vì vậy, rốt cuộc, tạo ra rất ít thay đổi. Điều đó cho thấy rằng, nó sẽ là khôn ngoan hơn khi giới thiệu những ý tưởng mới. Hoặc là chúng ra có thể sống hết cuộc đời dù biết rằng có quá nhiều điều được nói và viết về lịch sử Việt Nam là không chính xác, mà sẽ không bao giờ thấy được bất kỳ thay đổi nào.

Nguồn: Paradigm shifts in Vietnamese history by Liam Kelley. 6/9/ 2012. Nguyễn Hồng Phúc dịch ngày 04/07/2016.

SỰ BIẾN MẤT CỦA ĐẤU TRANH VÀ MÂU THUẪN GIAI CẤP TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

Tôi đang cố gắng để làm rõ thời điểm ý tưởng về ‘dân gian’ [folk] bắt đầu được sử dụng bởi các học giả Việt Nam. Khi đọc một cuốn sách có tên gọi Văn học dân gian được xuất bản năm 1972, tôi thấy các tác giả cuốn sách có ghi chú rằng, thuật ngữ ‘dân gian’ bắt đầu được sử dụng từ những năm 1950, và họ trích dẫn ra một bài báo của Vũ Ngọc Phan làm ví dụ.

vcdg

Tôi liền tra cứu bài báo đó. Nó tên là Người nông dân Việt Nam trong truyện cổ tich và được xuất bản năm 1955 trên Tập san Văn Sử Địa, một tạp chí học thuật ở Miền Bắc Việt Nam.

vsd
Trong cùng vấn đề này, có một bài báo khác của Minh- Tranh với tên gọi Góp ý kiến vào việc tìm hiểu văn học nhân dân của ta.

struggle
Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy tất cả những tác giả [ở hai bài báo trên] đều lập luận rằng: khi đọc văn học [dân gian], chúng ta cần nhìn thấy được những dấu hiệu của mâu thuẫn giai cấp (class contradictions) và đấu tranh giai cấp ( class struggle).

Tôi ngạc nhiên khi thấy điều này vì ấn bản năm 1972 không hề nói về vấn đề trên.

conf3
Tôi sau đó đã biết được rằng, vào giữa khoảng thời gian của hai lần xuất bản trên, một hội nghị về Văn học và Nghệ thuật Dân gian Việt Nam đã được tổ chức ở Hà Nội năm 1966. Kỷ yếu hội nghị được xuất bản ba năm sau đó- năm 1969, đã cho thấy rõ ràng rằng: các học giả được yêu cầu phải nghiên cứu để góp phần phục vụ những đòi hỏi của chiến tranh.

confquote
Một cách dễ hiểu, các học giả [từ đó] bắt đầu dừng việc nói về mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp.

one
Và khi chiến tranh kết thúc, sự thống nhất được tuyên bố, và theo những gì tôi có thể nói, các học giả đã không còn quay trở lại cái chủ đề về mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp trong văn học dân gian ấy nữa.

Tôi băn khoăn sự im lặng trong vấn đề này có ý nghĩa gì? Phải chăng nó có nghĩa là Minh- Tranh và Vũ Ngọc Phan đã đúng, hoặc họ đã sai? Và làm cách nào chúng ta biết được?

Nguồn: The disappearance of class contradictions and struggle in Vietnamese Folk Literature by Liam Kelly. 28/2/2014. Nguyễn Hồng Phúc dịch ngày 03/07/2016.